Bệnh rối loạn chuyển hóa Galactose

Thông tin bệnh rối loạn chuyển hóa galactose

1. Tổng quan về bệnh rối loạn chuyển hóa galactose 
2. G-Carrier – Sàng lọc bệnh cho các cặp đôi trước sinh con để phòng bệnh rối loạn chuyển hóa Galactose
3. PGT-M/PGT-Total 

1. Tổng quan về bệnh rối loạn chuyển hóa galactose

Tên gen: GALT trên nhiễm sắc thể số 9.

1.1. Đặc điểm bệnh

Thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa carbohydrate, do thiếu hụt enzyme nên cơ thể không chuyển hóa được galactose thành glucose, dẫn đến tăng galactose trong máu. Galactose cao trong máu gây rối loạn chức năng gan, thận, hệ thần kinh, mắt…

1.2. Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện sớm trong 2 tuần sau sinh, sau khi trẻ ăn sữa mẹ hoặc sữa công thức có chứa lactose, triệu chứng: bú kém, nôn, tiêu chảy, li bì, hôn mê, giảm trương lực cơ, vàng da, gan to, thóp phồng; có thể tan máu, nhiễm trùng huyết…

Nếu không được điều trị tốt, trẻ bị chậm phá triển thể chất, khó khăn về ngôn ngữ, rối loạn vận động; Đục thủy tinh thể; Suy buồng trứng (bệnh nhân nữ); rối loạn chức năng thận (protein niệu, acid amin niệu) …

1.3. Xét nghiệm chẩn đoán

Tốt nhất là: Sàng lọc trẻ sơ sinh. Sàng lọc máu ở trẻ sơ sinh: phát hiện sớm, điều trị và theo dõi sớm sẽ ngăn ngừa được cả các biểu hiện, biến chứng của bệnh.

Sinh hóa máu: nồng độ galactose gồm galactose và galactose-1-phosphate hồng cầu tăng cao; hoạt tính enzym GALT (galactose-1-phosphate uridyl transferase hồng cầu) giảm hoặc không có.

=> Xác định gen GALT.

Dấu hiệu bệnh rối loạn chuyển hóa galactose
Dấu hiệu bệnh rối loạn chuyển hóa galactose

1.4. Nguyên tắc điều trị

Chế độ ăn: Hạn chế ăn uống các thực phẩm có galactose (đặc biệt không có lactose) trong suốt cuộc đời. Dùng sữa công thức không có lactosse

1.5. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Người con bị bệnh khi có 2 gen bệnh do nhận được từ cả bố và mẹ.

– Tần suất: 1 trong 30.000 đến 60000 trẻ sơ sinh.

1.6, Phòng bệnh: Phòng không sinh trẻ bị bệnh ở những gia đình đã xác định có người bị bệnh/ mang gen bệnh. Sàng lọc và phân tích nguy cơ sinh con bị bệnh cho cặp đôi trước khi kết hôn. Chẩn đoán trước sinh, chẩn đoán trước phôi cho các cặp đôi có nguy cơ sinh con bị bệnh.

=> Tài liệu tham khảo: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK1518/

2. G-Carrier – Sàng lọc bệnh cho các cặp đôi trước sinh con để phòng bệnh rối loạn chuyển hóa Galactose

Để em bé có thể sinh ra khỏe mạnh, không mắc bệnh di truyền, các cặp đôi nên có thông tin về tình trạng mang gen của bản thân và đối tác thông qua các xét nghiệm sàng lọc tình trạng mang gen (G-Carrier) bất kể họ có tiền sử gia đình mắc bệnh di truyền và có nguy cơ sinh con bị bệnh/ mang gen hay không.

2.1. Khuyến cáo của các Hiệp Hội trên thế giới về xét nghiệm sàng lọc tình trạng mang gen

Khuyến cáo của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG): Các cặp vợ chồng nên được sàng lọc gen bệnh trước khi quyết định mang thai [1].

Khuyến cáo của Hội Di truyền Y học Hoa Kỳ (ACMG): Sàng lọc người mang gen nên đảm bảo tính trung lập về khía cạnh chủng tộc, từ đó có thể bao quát được sự đa dạng của các nhóm bệnh lý [2].

– Nhóm các gen cấp độ 1 có tỉ lệ người mang gen trong quần thể ≥ 1/50 được Hội Di truyền Y học Hoa Kỳ (ACMG) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo trong sàng lọc người mang gen dựa trên các thống kê trung lập về dân số và chủng tộc.

– Việc sàng lọc mở rộng với các gen và bệnh lý có tỉ lệ người mang gen thấp hơn trong quần thể cũng được khuyến nghị nhằm cung cấp lượng thông tin tối đa về tình trạng mang gen cũng như bao quát được sự đa dạng về dân số và chủng tộc.

2.2. Đối tượng thực hiện xét nghiệm G-Carrier

Xét nghiệm G-Carrier đặc biệt được khuyến cáo cho các cặp đôi có ý định có con để xác định nguy cơ sinh con mắc bệnh di truyền.

Xét nghiệm G-Carrier có thể được thực hiện bất cứ lúc nào, nhưng tốt nhất nên sàng lọc trước khi mang thai để các bậc cha mẹ tương lai có thể cân nhắc về phương án sinh sản phù hợp. Các thời điểm thực hiện xét nghiệm đề xuất bao gồm: (2)

– Trước khi mang thai tự nhiên

– Trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản

– Trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng hoặc trứng hiến tặng.

– Cặp đôi nên làm gì nếu có kết quả mang tổn thương gen có nguy cơ sinh con bị bệnh?

2.3. Kết quả xét nghiệm nhận được

– Kết quả sàng lọc âm tính: không có nguy cơ với bệnh lý đang tiến hành sàng lọc.

– Kết quả sàng lọc dương tính với biến thể gây bệnh/có thể gây bệnh với các trường hợp sau:

  • Một trong 2 người dương tính với cùng 1 gen.
  • Hai người dương tính trên 2 gen khác nhau.
  •  Hai người dương tính trên cùng 1 gen.
  •  Mẹ dương tính với đột biến gen nằm trên NST giới tính X, bố bình thường.

2.4. Sau khi nhận kết quả, cặp đôi sẽ được

– Tư vấn về lợi ích và rủi ro của các lựa chọn sinh con.

– Cung cấp những tài liệu khoa học giúp cặp đôi và gia đình để có thể đưa ra quyết định lựa chọn phương thức sinh con phù hợp nhất.

2.5. Cặp đôi có nguy cơ cao sinh con bị bệnh?

Cặp đôi có nguy cơ cao sinh con bị bệnh cần được tư vấn bởi các chuyên gia tư vấn và bác sĩ di truyền. Quá trình tư vấn sẽ giúp cặp đôi hiểu về tình trạng mang gen, nguy cơ bệnh lý và các giải pháp giúp sinh con khỏe mạnh. Các giải pháp được khuyến nghị bởi Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (American College of Obstetricians and Gynecologists – ACOG) bao gồm (2):

– Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi (PGT-M) có thể phòng ngừa sinh con bị bệnh.

– Nhận trứng và tinh trùng hiến tặng.

– Nhận con nuôi.

3. PGT-M/ PGT-Total – Phân tích di truyền trước chuyển phôi cho bệnh rối loạn chuyển hóa Galactose

Với các cặp đôi được xác định có nguy cơ cao sinh con mang bệnh rối loạn chuyển hóa Galactose khi lựa chọn thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) – phôi được nuôi đến ngày 5 sẽ được thực hiện sàng lọc với PGT-M hoặc PGT-Total để sàng lọc phôi không mang bệnh/ hoặc gen bệnh để chuyển vào tử cung người mẹ.

3.1. Xét nghiệm PGT-M

Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh lý đơn gen (PGT-M) – là xét nghiệm được thực hiện trên các phôi nhằm phát hiện các bệnh di truyền do tổn thương trên gen đã được xác định từ trước hoặc có tiền sử gia đình rõ ràng.

Xét nghiệm PGT-M giúp:

– Giảm số chu kỳ làm IVF cần để đậu thai, giảm thời gian cần có để có thai thành công

– Tăng cơ hội sinh con khỏe mạnh, không mắc bệnh di truyền, mang lại hy vọng cho những gia đình có tiền sử sinh con dị tật, sảy thai liên tiếp hoặc thai lưu không rõ nguyên nhân.

– Tăng khả năng đậu thai, giảm nguy cơ sảy thai.

– Tránh rủi ro về sức khỏe do đa thai.

THAM KHẢO THÊM QUY TRÌNH PGT-M TẠI ĐÂY

*Quy trình thực hiện xét nghiệm PGT-M tại Genome:

– Tư vấn di truyền và xác định tổn thương gen: Xác định nguy cơ bệnh lý di truyền, tư vấn các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh và thiết lập mô hình di truyền trong gia đình. (với các gia đình đã thực hiện xét nghiệm G-Carrier giai đoạn này đã có cơ sở dữ liệu để các chuyên gia tư vấn và xây dựng mô hình di truyền cho gia đình nhanh chóng).

– Set-up PGT-M: quy trình PGT-M được thiết kế cho từng gia đình dựa trên thông tin về vị trí tổn thương và bệnh lý gặp phải.

– Thực hiện IVF và sinh thiết phôi: Phân tích kiểu gen của các STR trên mẫu phôi. Xác định haplotype nguy cơ và haplotype không nguy cơ trên các mẫu phôi, xác định được tình trạng tổn thương của phôi.

* Ưu điểm xét nghiệm PGT-M tại Genome

– Cá thể hóa cho từng gia đình và có thể được tiến hành cho hầu hết các bệnh lý đơn gen.

– Sử dụng công nghệ MDA được sử dụng để khuếch đại WGA với độ chính xác cao nhất, độ bao phủ và độ tin cậy tốt hơn.

– Được kết hợp 2 phương pháp

  • Chẩn đoán trực tiếp: giải trình tự Sanger, mini sequencing…
  • Chẩn đoán gián tiếp: phân tích liên kết gen thông qua các chỉ thị di truyền như đa hình đơn nucleotide (Single Nucleotide Polymorphism – SNP) hoặc các trình tự lặp ngắn (Short Tandom Repeat-STR).
  • Sự kết hợp này được coi là tiêu chuẩn vàng trong xét nghiệm trước làm tổ bệnh đơn gen với độ chính xác cao nhất, giúp kiểm soát hiện tượng ADO và ngoại nhiễm, qua đó tránh chẩn đoán sai (Theo ESRHE, 2020) (1).

–  Chuyên gia di truyền hàng đầu đồng hành giúp giải thích kết quả và hỗ trợ quá trình tư vấn di truyền.

=> Kính mời Quý vị tham khảo thêm: 

Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh lý đơn gen (PGT-M) 

PGT-M Thalassemia: Hỏi đáp cùng TS.BS Nguyễn Thị Thu Hà 

3.2 PGT-Total – Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp PGT-A-Expand, PGT-SR, PGT-M, PGT-HLA

Ưu điểm của xét nghiệm PGT-Total tại Genome
Ưu điểm của xét nghiệm PGT-Total tại Genome

PGT Total ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới kết hợp với phân tích các điểm đa hình đơn Nucleotide (SNPs) để xác định bộ haplotype dựa trên các vùng khác nhau của nhiễm sắc thể (NST).

Đa hình đơn Nucleotide (NSP) là sự khác nhau giữa các nucleotide đơn ở cùng một vị trí trên hệ gen giữa các cá thể. Các SNPs có thể phân bổ trên khắp các hệ gen, đại diện cho sự khác nhau giữa các cá thể.

Công nghệ SNP kết hợp công nghệ tin sinh đột phá giúp cho các xét nghiệm PGT-Total có thể phát hiện đồng thời các bất thường ở cả mức độ nhiễm sắc thể và mức độ gen trong cùng một lần chạy. Đảm bảo tuân thủ các hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

Khả năng sàng lọc của PGT-Total

PGT-Total không chỉ sàng lọc các phôi mang bệnh/ gen bệnh rối loạn chuyển hóa Galactose như PGT-M mà còn đồng thời phân tích, phát hiện nhiều bất thường khác của phôi như:

– Phát hiện bất thường lệch bội ở 24 NST

– Phát hiện bất thường cấu trúc NST (mất/lặp đoạn) >4Mb

– Phát hiện mức bội thể (đơn bội, đa bội)

– Phân tích tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)

– Phát hiện 6 vi mất đoạn có kích thước >1Mb

– Phát hiện các nhóm ngoại nhiễm

– Phát hiện bất thường cấu trúc NST có tính di truyền, chỉ định cho các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn NST cân bằng (chuyển đoạn Robertson, chuyển đoạn tương hỗ).

– Xác định tương hợp hệ thống kháng nguyên bạch cầu người (HLA)

– Cho phép lựa chọn phôi phù hợp HLA với những người thân, anh/chị bị bệnh, từ đó giúp thu thập tế bào gốc phục vụ điều trị.

*) Đặc biệt

– PGT-Total có thể sàng lọc từ hai tổn thương di truyền đơn gen trở lên.

– PGT-Total có thời gian thực hiện nhanh chóng – một giải pháp trong trường hợp bệnh nhân cần kết quả PGT-M trong thời gian ngắn vẫn đảm bảo xét nghiệm tuân thủ hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

=> Kính mời Quý vị tham khảo thêm: 

PGT-Total: Giải pháp xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp tại Genome 

Những ưu điểm của xét nghiệm PGT-Total tại Genome

Tài liệu tham khảo:

1. Committee Opinion No. 690: Carrier Screening in the Age of Genomic Medicine, Obstetrics and Gynecology, 2017, 129(3), e35-e40.
2. Gregg AR, Aarabi M, Klugman S, et al. Screening for autosomal recessive and X-linked conditions during pregnancy and preconception: a practice resource of the American College of Medical Genetics and Genomics (ACMG) [published correction appears in Genet Med. 2021 Aug 27;:]. Genet Med. 2021;23(10):1793-1806.doi:10.1038/s41436-021-01203-z

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ