Thiếu men G6PD (Nhóm bệnh Rối loạn chuyển hóa)

Thiếu men G6PD (Nhóm bệnh Rối loạn chuyển hóa)

– Tên bệnh (Việt + Anh): Thiếu men G6PD, Glucose-6-phosphate dehydrogenase (G6PD) deficiency
– Nhóm bệnh: Rối loạn chuyển hoá; Gen liên quan: G6PD
– Kiểu di truyền: Bệnh di truyền lặn đơn gen liên kết nhiễm sắc thể giới tính X

I. Tổng quan bệnh lý

Men Glucose-6-Phosphate Dehydrogenase (G6PD) có trong các tế bào (đặc biệt là hồng cầu) với vai trò bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương do các gốc tự do oxy hóa (ROS). Cá thể có đột biến gen G6PD dẫn đến bị thiếu men G6PD, vì thế khả năng chống chất oxy hóa bị giảm dẫn đến hiện tượng vỡ hồng cầu (tan máu) khi cơ thể tiếp xúc với các tác nhân như thuốc, thực phẩm…

Nguyên nhân

– Thiếu men G6PD là bệnh di truyền lặn đơn gen liên kết với nhiễm sắc thể giới tính X, gây ra bởi đột biến gen G6PD chịu trách nhiệm mã hoá tổng hợp enzyme glucose-6-phosphate dehydrogenase.

– Người mắc bệnh khi:

+ Con trai nhận alen bệnh (trên nhiễm sắc thể X) từ mẹ

+ Con gái nhận 2 alen bệnh (trên nhiễm sắc thể X) từ cả bố và mẹ

– Tỷ lệ lưu hành: Ảnh hưởng đến hơn 400 triệu người trên toàn thế giới. Tỷ lệ ở nam giới cao hơn ở nữ. Bệnh phổ biến nhất ở một số khu vực thuộc châu Phi, châu Á, vùng Địa Trung Hải và Trung Đông…

Triệu chứng

Trẻ nam bị bệnh nhiều hơn trẻ nữ, với các biểu hiện:

– Trẻ sơ sinh: Tăng bilirubin máu gây vàng da, nguy cơ bị vàng da nhân, có thể gây lờ đờ, buồn ngủ quá mức và trương lực cơ kém. Các triệu chứng có thể xuất hiện từ 24 giờ đầu sau sinh.

– Ở người lớn:

+ Các triệu chứng của thiếu máu do tan máu bao gồm: Thiếu máu, vàng da, mệt mỏi, lách to và nước tiểu sẫm màu.

+ Các triệu chứng xuất hiện sau khi cơ thể tiếp xúc với các tác nhân kính thích như dùng thuốc, thực phẩm (đậu tằm), nhiễm trùng.

Điều trị

Ở trẻ sơ sinh, điều trị tập trung vào kiểm soát vàng da và phòng ngừa nguy cơ vàng nhân não. Liệu pháp chiếu đèn là phương pháp hiệu quả trong điều trị vàng da sơ sinh, giúp giảm mức độ bilirubin trong máu. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể phải thực hiện truyền máu thay thế.

Ở trẻ lớn và người trưởng thành, việc điều trị chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng tổng thể. Những trường hợp nhẹ hơn có thể được xử trí thông qua việc ngừng hoặc tránh các tác nhân khởi phát. Các trường hợp nặng hơn có thể cần truyền máu thay thế.

II. Yếu tố di truyền và vai trò của xét nghiệm gen

Vai trò của yếu tố di truyền

Gen G6PD nằm trên nằm ở đầu mút (telomeric region) của nhiễm sắc thể X và các đột biến gen G6PD là nguyên nhân gây thiếu men G6PD. Cho đến nay đã ghi nhận hơn 400 biến thể trên gen G6PD được mô tả, trong đó khoảng 160 biến thể đã được xác định có liên quan đến sự giảm đáng kể hoạt độ enzym G6PD trong hồng cầu. Tỷ lệ phân bố các biến thể gen G6PD như sau: 85,4% là đột biến sai nghĩa (missense mutations), 8% là đa đột biến (multiple mutations), 5,3% là mất đoạn (deletions) và 1% là các đột biến trong vùng intron (mutations within introns).

Đột biến thường gặp

Các biến thể được ghi nhận với tần suất cao trong các quần thể cụ thể bao gồm:
– Biến thể c.563C>T phổ biến ở các bệnh nhân người Nam Âu
– Biến thể c.376A>Gc.202G>A phổ biến ở bệnh nhân người châu Phi.
– Biến thể c.487G>A, c.871G>A phổ biến ở bệnh nhân người châu Á.

Xét nghiệm di truyền

Mục tiêu của xét nghiệm di truyền đối với thiếu men là phát hiện các biến thể gây bệnh trong gen G6PD nhằm hỗ trợ sàng lọc, chẩn đoán xác định và định hướng điều trị cho bệnh nhân.

Hiện nay có nhiều kỹ thuật phân tử khác nhau được sử dụng trong xét nghiệm di truyền cho thiếu men G6PD:

+ Tùy thuộc biểu hiện kiểu hình, có thể kết hợp giải trình tự gen mục tiêu hoặc/và giải trình tự toàn bộ exome/genome (95% biến thể phát hiện).

+ Microarray/MLPA để phát hiện mất/ lặp đoạn gen nếu phương pháp giải trình tự không phát hiện biến thể (5% có thể được phát hiện).

Tư vấn di truyền

Do thiếu men G6PD là bệnh di truyền, việc xác định tình trạng mang gen bệnh – đặc biệt ở nữ giới là rất quan trọng, giúp đánh giá nguy cơ di truyền bệnh cho thế hệ sau.

Nguy cơ di truyền: Thiếu men G6PD là bệnh di truyền đơn gen lặn trên NST giới tính, do các đột biến trên gen G6PD. Nếu mẹ là người khoẻ mạnh nhưng mang 1 alen bệnh thì con trai của bạn có 50% khả năng mắc bệnh.

Nếu người chồng mang alen gen gây bệnh trên NST X thì sẽ mắc bệnh và truyền gen bệnh cho tất cả con gái.

Trường hợp cả bố và mẹ đều là người khỏe mạnh nhưng là người lành mang gen bệnh thì nguy cơ di truyền bệnh cho con của họ như sau:

– 25% khỏe mạnh và không mang gen bệnh

– 50% mang gen bệnh

– 25% mắc bệnh

Tư vấn di truyền giúp các cá nhân/cặp đôi mang gen bệnh chủ động lựa chọn kế hoạch sinh sản phù hợp như:

– Thực hiện IVF kết hợp xét nghiệm tiền làm tổ (PGT-M/PGT-Total) để loại bỏ bất thường đơn gen G6PD cho phôi, dành cho các cặp đội nguy cơ cao và có kế hoạch thai sản.

– Thực hiện chẩn đoán trước sinh xác định tình trạng mang gen bệnh của thai nhi, dành cho các cặp đôi có nguy cơ cao và đang trong giai đoạn thai sản.

Giải pháp xét nghiệm Genome

Sàng lọc người mang gen thiếu men G6PD và lựa chọn kế hoạch sinh con khỏe mạnh

Chủ động phòng ngừa thiếu men G6PD với các gói xét nghiệm sàng lọc tình trạng mang gen G-Carrier của Genome, giúp đánh giá nguy cơ di truyền bệnh cho con sinh và chọn lựa kế hoạch sinh sản phù hợp.

Các gói xét nghiệm

Tại Genome, các xét nghiệm G-Carrier được thiết kế tập trung vào các bệnh lý di truyền có tỷ lệ lưu hành cao trong cộng đồng người Việt cũng như người Châu Á

G-Carrier 30: Sàng lọc 33 gen liên quan đến 30 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao tại Việt Nam.

G-Carrier 120: Sàng lọc 120 gen liên quan đến 118 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao, được Hiệp hội Di truyền Y học và Hệ gen học (ACMG) khuyến cáo nên sàng lọc đối với cặp đôi có kế hoạch thai sản.

G-Carrier Expand: Một chiến lược toàn diện sàng lọc 420 gen liên quan đến 418 bệnh di truyền.

=> Kính mời Quý vị tìm hiểu thêm về các giải pháp xét nghiệm G-Carrier của Genome tại đây

Yêu cầu và thông số xét nghiệm

– Loại mẫu: 2-3 mL máu toàn phần chứa trong ống chống đông EDTA

– Độ đọc sâu trung bình: 300X. Giải mã các biến thể di truyền (thay thế nucleotide, indel và CNVs) trong phạm vi panel được thiết kế.

– Sử dụng công cụ tích hợp AI, dữ liệu lâm sàng được cập nhật liên tục phục vụ phân tích và phiên giải kết quả.

Đối tượng thực hiện xét nghiệm

Xét nghiệm G-Carrier đặc biệt được khuyến cáo cho các trường hợp sau:

– Cá nhân/Cặp đôi có kế hoạch mang thai: Chuẩn bị cho kế hoạch thai sản an toàn, chủ động.

– Phụ nữ mang thai: Chuẩn bị cho kế hoạch sàng lọc/chẩn đoán trước sinh phù hợp.

Thời điểm thực hiện xét nghiệm

Xét nghiệm G-Carrier có thể được thực hiện bất cứ lúc nào, nhưng tốt nhất nên sàng lọc trước khi mang thai để các bậc cha mẹ tương lai có thể cân nhắc về phương án sinh sản phù hợp. Các thời điểm thực hiện xét nghiệm đề xuất bao gồm:

– Trước khi mang thai tự nhiên.

– Trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản.

– Trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng hoặc trứng hiến tặng.

Sàng lọc phôi mang gen thiếu men G6PD với PGT-M/PGT-Total

Gia đình có nguy cơ sinh con mắc bệnh di truyền có thể xem xét lựa chọn kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản bao gồm thụ tinh trong ống nghiệm IVF kết hợp xét nghiệm sàng lọc bệnh lý đơn gen trên phôi (PGT-M/PGT-Total) để lựa chọn phôi không mang gen bệnh.

Hành trình sinh con khỏe mạnh bao gồm các bước như sau:

1) Xác định tổn thương di truyền của gia đình 2) Thực hiện thụ tinh ống nghiệm
3) Nuôi phôi đến ngày 3 – 5 4) Sinh thiết một vài tế bào lá nuôi phôi
5) Xét nghiệm di truyền trên phôi với PGT-M/ PGT-Total để sàng lọc phôi không mang bệnh/mang gen bệnh 6) Chuyển phôi khỏe mạnh không mang bệnh/gen bệnh vào tử cung người mẹ
7) Chẩn đoán trước sinh bằng mẫu dịch ối giúp xác nhận thai nhi không mang gen bệnh.

 

Mỗi thành tựu của Genome đều ghi dấu ấn của đội ngũ chuyên gia tư vấn di truyền
Mỗi thành tựu của Genome đều ghi dấu ấn của đội ngũ chuyên gia tư vấn di truyền
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ