| 1. Tổng quan về Rối loạn chuyển hóa đồng (Bệnh Wilson) |
| 2. Sàng lọc dự phòng bệnh Wilson cho các cặp đôi trước khi sinh với G-Carrier |
| 3. Phân tích di truyền trước chuyển phôi, dự phòng rối loạn chuyển hóa đồng (bệnh Wilson) |
1. Tổng quan về Rối loạn chuyển hoá đồng (bệnh Wilson)
1.1. Đặc điểm bệnh Wilson
Đột biến gen ATP7B trên nhiễm sắc thể số 13 làm mất chức năng protein ATP7B, dẫn đến đồng không gắn được vào ceruloplasmin để bài tiết qua mật thải ra ngoài. Rối loạn chuyển hóa đồng ở tế bào gan, làm tăng tích tụ đồng ở gan, sau đó đồng dư thừa vào máu và lắng đọng và gây tổn thương các cơ quan như não, mắt, thận…

1.2. Biểu hiện lâm sàng bệnh Wilson
– Tổn thương gan thường xuất sớm ở những năm đầu đời: Vàng da, ngứa, thiếu máu do tan máu.
– Dấu hiệu ở mắt: vòng Kayser ở giác mạc, đục thủy tinh thể hình hoa hướng dương,
– Dấu hiệu thần kinh, tâm thần thường xuất hiện độ tuổi 30 – 40 tuổi: Run, rối ngôn ngữ, rối loạn vận động, lo âu, ảo giác.
1.3. Xét nghiệm chẩn đoán
– Hóa sinh máu: Ceruloplasmin huyết thanh < 20 mg/dL
– Đồng niệu 24 giờ >40 µg (thường >100 µg)
– Sinh thiết gan đo nồng độ đồng >250 µg/g trọng lượng khô (tiêu chuẩn vàng)
– Sinh học phân tử: không khuyến cáo do tính đa dạng của đột biến.
1.4. Nguyên tắc điều trị
– Dùng thuốc gắp đồng để đào thải qua nước tiểu; chế độ ăn giảm đồng
– Ghép gan khi có suy gan cấp hoặc bệnh gan mạn tính nặng
– Liệu pháp gen đang được nghiên cứu.
1.5. Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Người con bị bệnh khi có 2 gen bệnh do nhận được từ cả bố và mẹ.
Tần suất: 1 trong mỗi 30.000 người trên toàn thế giới.
1.6. Phòng bệnh
Phát hiện sớm trẻ bị bệnh (từ 3 tuổi) để điều trị sớm, ngăn ngừa biến chứng nặng.
Phòng không sinh trẻ bị bệnh. Sàng lọc và phân tích nguy cơ sinh con bị bệnh cho cặp đôi trước khi kết hôn. Chẩn đoán trước sinh, chẩn đoán trước chuyển phôi cho các cặp đôi có nguy cơ sinh con bị bệnh
Tài liệu tham khảo: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK441990/2
2. Sàng lọc dự phòng bệnh Wilson cho các cặp đôi trước khi sinh con với G-Carrier
Chủ động phòng ngừa bệnh Wilson với các gói xét nghiệm sàng lọc tình trạng mang gen G-Carrier của Genome, giúp các cặp đôi đánh giá nguy cơ di truyền, chọn lựa kế hoạch sinh sản phù hợp để sinh con khỏe mạnh.
2.1. Khuyến cáo của các tổ chức trên thế giới
Theo khuyến cáo của các tổ chức trên thế giới: EASL (European Association for the Study of the Liver) và AASLD (American Association for the Study of Liver Diseases), sàng lọc bệnh Wilson được khuyến cáo ở những người có người thân mắc bệnh Wilson, đặc biệt là họ hàng bậc một như cha mẹ, anh chị em ruột hoặc con của người bệnh.
Ngoài ra, những người trẻ tuổi có các dấu hiệu bất thường về gan hoặc thần kinh chưa tìm được nguyên nhân rõ ràng cũng nên được bác sĩ cân nhắc xét nghiệm để loại trừ bệnh Wilson.
Việc phát hiện bệnh sớm có ý nghĩa quan trọng. Nếu không được điều trị, bệnh Wilson có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng, suy gan cấp và đe dọa tính mạng. Ngược lại, khi được phát hiện sớm và điều trị phù hợp, người bệnh có thể kiểm soát bệnh lâu dài và duy trì chất lượng cuộc sống tốt.
Vì vậy, sàng lọc ở những người có nguy cơ là bước quan trọng giúp phát hiện bệnh Wilson sớm và cải thiện hiệu quả điều trị.
Tài liệu tham khảo: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK441990/
2.2. Các gói G-Carrier có thể sàng lọc bệnh Wilson

Tại Genome, các xét nghiệm G-Carrier được thiết kế tập trung vào các bệnh lý di truyền có tỷ lệ lưu hành cao trong cộng đồng người Việt cũng như người Châu Á
– G-Carrier 30: Sàng lọc 33 gen liên quan đến 30 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao tại Việt Nam.
– G-Carrier 120: Sàng lọc 120 gen liên quan đến 118 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao, được Hiệp hội Di truyền Y học và Hệ gen học (ACMG) khuyến cáo nên sàng lọc đối với cặp đôi có kế hoạch thai sản.
– G-Carrier Expand: Một chiến lược toàn diện sàng lọc 420 gen liên quan đến 418 bệnh di truyền.
Yêu cầu và thông số xét nghiệm
– Loại mẫu: 2-3 mL máu toàn phần chứa trong ống chống đông EDTA
– Độ đọc sâu trung bình: 300X.
– Giải mã các biến thể di truyền (thay thế nucleotide, indel và CNVs) trong phạm vi panel được thiết kế.
– Sử dụng công cụ tích hợp AI, dữ liệu lâm sàng được cập nhật liên tục phục vụ phân tích và phiên giải kết quả.
3. Phân tích di truyền trước chuyên phôi, dự phòng Rối loạn chuyển hoá đồng (bệnh Wilson)
3.1. PGT-M

PGT-M là xét nghiệm để chẩn đoán các bệnh đơn gen, giúp các cặp vợ chồng mang gen bệnh sinh con không bị bệnh hoặc không mang gen bệnh từ bố hoặc mẹ. Một số bệnh di truyền đơn gen được biết đến gồm hội chứng tan máu bẩm sinh (Thalassemia), bệnh máu khó đông (Hemophilia), loạn dưỡng cơ Dunchene, bệnh teo cơ tủy.
*PGT-M thường được chỉ định trong những trường hợp nào?
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) chỉ định PGT-M đối với các cặp vợ chồng (1):
– Mang các đột biến di truyền đơn gen (thể trội hoặc lặn) đã được xác định: Teo cơ tủy, Thalassemia, ung thư vú di truyền, bệnh Huntington…
– Bất thường liên kết NST giới tính (X-Link): Bệnh máu khó đông Hemophilia A,B; loạn dưỡng cơ Duchenne…
– Hội chứng lặp lại các bộ ba nucleotide, mất hoặc thêm các base trên gen.
– PGT-M còn mở rộng chỉ định với xác định tương hợp HLA giữa phôi và anh/chị/em bị bệnh trong gia đình, nhằm mục tiêu tạo nguồn cung cấp tế bào gốc dây rốn hoặc từ tủy xương trong hỗ trợ điều trị bệnh. (VD: Điều trị Thalassemia hoặc ung thư bạch cầu ác tính…).
– Áp dụng với các cặp vợ chồng có chuyển đoạn cân bằng (Robertsonian translocation, chuyển đoạn tương hỗ)…
| Kính mời Quý vị tìm hiểu thêm về xét nghiệm PGT-M Genome tại đây! |
3.2. PGT-Total
PGT Total: Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp PGT-A, PGT-M, PGT-SR và PGT-HLA.
PGT Total giúp khắc phục triệt để các hạn chế của xét nghiệm PGT thông thường.
PGT Total ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới kết hợp với phân tích các điểm đa hình đơn Nucleotide (SNPs) để xác định bộ haplotype dựa trên các vùng khác nhau của nhiễm sắc thể (NST).
Đa hình đơn Nucleotide (NSP) là sự khác nhau giữa các nucleotide đơn ở cùng một vị trí trên hệ gen giữa các cá thể. Các SNPs có thể phân bổ trên khắp các hệ gen, đại diện cho sự khác nhau giữa các cá thể.
Công nghệ SNP kết hợp công nghệ tin sinh đột phá giúp cho các xét nghiệm PGT-Total có thể phát hiện đồng thời các bất thường ở cả mức độ nhiễm sắc thể và mức độ gen trong cùng một lần chạy. Đảm bảo tuân thủ các hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

*PGT-Total thường được chỉ định trong những trường hợp nào?
– Gia đình mang một tổn thương di truyền đơn gen cần sàng lọc và có nguyện vọng kết hợp phân tích:
– Lệch bội số lượng NST trước chuyển phôi (PGT-A Expand)
– Phù hợp HLA giữa phôi được sàng lọc và người con bị bệnh của gia đình.
- Gia đình mang từ hai tổn thương di truyền đơn gen trở lên.
- PGT-Total là giải pháp tối ưu trong trường hợp bệnh nhân muốn nhận kết quả PGT-M trong thời gian ngắn (chỉ từ 18 ngày), đảm bảo xét nghiệm tuân thủ hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE).
- Vợ/chồng mang chuyển đoạn tương hỗ/chuyển đoạn Robertson/đảo đoạn có nguyện vọng chọn phôi chuẩn bội kết hợp xác định tình trạng mang tái sắp xếp cấu trúc NST cân bằng trên phôi (PGT-SR*).
| Kính mời Quý vị tìm hiểu thêm về xét nghiệm PGT-Total tại đây! |