Suy giảm miễn dịch di truyền (phần 1)

PHẦN 1: 

1, Giới thiệu.

2, Bệnh di truyền được di truyền như thế nào?

2.1. Di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường

2.2. Bệnh di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể X

2.3. Di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường.

3, Khi nào cần chẩn đoán di truyền.

PHẦN 2

4, Chẩn đoán trước sinh

5, Ai nên được xét nghiệm tình trạng mang gen.

6, Chẩn đoán tiền làm tổ dành cho cặp đôi thực hiện IVF.

7, Lưu trữ máu cuống rốn.

1, Giới thiệu

1.1, Khái niệm về miễn dịch:

Hệ thống miễn dịch không phải là một cơ quan đơn lẻ mà bao gồm nhiều cấu phần như các cơ quan, tế bào và các yếu tố hòa tan.

  • Cơ quan lympho gồm tủy xương, hạch lympho, lách, tuyến ức, mô lympho liên kết niêm mạc (amidan, mảng Peyer ở ruột…).
  • Tế bào miễn dịch chia 2 nhóm là: các tế bào tham gia miễn dịch tự nhiên (phản ứng nhanh, không đặc hiệu) gồm bạch cầu trung tính, đại thực bào, tế bào NK (natural killer); nhóm tế bào tham gia miễn dịch thích ứng (phản ứng chậm hơn nhưng đặc hiệu và có trí nhớ) gồm tế bào lympho B, lympho T.
  • Các yếu tố hòa tan (dịch thể) gồm bổ thể, Cytokin và kháng thể

Suy giảm miễn dịch là tình trạng rối loạn chức năng của một hoăc nhiều thành phần của hệ thống miễn dịch. Phân loại suy giảm miễn dịch theo 2 nhóm:

+ Suy giảm miễn dịch tiên phát (bẩm sinh): Nguyên nhân là do đột biến di truyền gây thiếu hụt hoặc bất thường quá trình biệt hóa tế bào miễn dịch ( tế bào B, tế bào T, thực bào, tế bào NK) hoặc hệ thống bổ thể. Bệnh thường có biểu sớm từ những năm đầu đời của trẻ.

+ Suy giảm miễn dịch bẩm sinh: Nguyên nhân do tác động bên ngoài như dùng hóa chất, thuốc ức chế miễn dịch, nhiễm virus, suy dinh dưỡng, bệnh lý mạn tính như HIV, suy thận mạn,…

1.2, Khái niệm về di truyền:

Con người có 23 cặp nhiễm sắc thể (NST) gồm 46 NST chứa  20.000 đến 25.000 gen. Gen là một đoạn phân tử DNA, chứa các thông tin được mã hóa để xác định đặc điểm của một người. Bộ gen của 1 người do được thừa hưởng một nửa từ bố và một nửa từ mẹ. Trong 23 cặp NST, có một cặp NST là cặp NST giới tính quyết định giới tính của mỗi cá nhân. Người nữ mang hai NST X và người nam mang một NST X và một NST Y. Các gen nằm trên nằm trên NST giới có kiểu di truyền khác với các gen nằm trên NST thường.

Các bệnh phổ biến do bất thường mất đoạn NST gây ra

Những thay đổi có hại xuất hiện ở những gen này có thể gây ra những bệnh di truyền khác nhau. Bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh là một nhóm bệnh di lý di truyền. Khi xác định được đột biến gây bệnh, có thể giúp lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp và đưa ra chiến lược phòng bệnh phù hợp cho thế hệ sau.

2, Bệnh suy giảm miễn dịch di truyền được di truyền như thế nào?

Các rối loạn suy giảm miễn dịch di truyền có thể được di truyền theo nhiều cơ chế khác nhau. Các mô hình di truyền thường gặp nhất là

  • Di truyền lặn trên NST thường
  • Di truyền lặn liên kết NST giới tính X
  • Di truyền trội trên NST thường

2.1, Di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường

Đối với gen tuân theo kiểu di truyền lặn trên NST thường, nếu đột biến xuất hiện ở một bản sao của gen này sẽ không gây biểu hiện bệnh; bởi vì bản sao còn lại của gen đó vẫn hoạt động bình thường, có thể bù đắp cho bản sao cho còn lại. Đây là người mang gen bệnh không bị bệnh. Khi một người thừa hưởng cả hai bản sao mang đột biến gây bệnh từ bố mẹ, người đó sẽ bị bệnh.

Cặp đôi đều là người mang gen bệnh kết hôn, ở mỗi lần mang thai có 25% khả năng con mắc bệnh, 50% khả năng con là người mang gen bệnh và 25% khả năng con không mang biến thể gen bệnh. Nguy cơ này không thay đổi giữa các lần mang thai. Trong nhiều trường hợp, cặp đôi không biết về nguy cơ sinh con bị bệnh vì trong gia đình không có người bị bệnh.

Một số bệnh suy giảm miễn dịch di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường bao gồm:

  • Bệnh suy giảm miễn dịch tổ hợp
  • Bệnh thiếu hụt Adenosine Deaminase (ADA)
  • Bệnh thiếu hụt Purine Nucleoside Phosphorylase (PNP)
  • Bệnh u hạt mạn tính (Chronic Granulomatous Disease – CGD)
  • Bệnh thiếu hụt bám dính bạch cầu
  • Hội chứng Chediak–Higashi

2.2, Bệnh di truyền lặn liên kết nhiễm sắc thể X

Các bệnh di truyền liên kết nhiễm sắc thể X có nguyên nhân từ các đột biến trên gen nằm trên nhiễm sắc thể X. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới.

Người nữ có hai nhiễm sắc thể X; khi một nhiễm sắc thể X mang gen bị tổn thương, nhiễm sắc thể X còn lại bình thường và có khả năng bù trừ chức năng. Vì vậy, người nữ là người lành mang gen bệnh.

Ngược lại, nam giới chỉ có một nhiễm sắc thể X. Do không có bản sao thứ hai để bù trừ, người nam mang nhiễm sắc thể X có gen bị tổn thương, người nam là người bị bệnh.

Một cá thể sẽ nhận NST X từ mẹ và có thể thừa hưởng nhiễm sắc thể X hoặc Y từ bố. Nếu mẹ là người mang gen bệnh trên NST X, có nghĩa là 50% NST X không mang gen bệnh và có 50% NST X mang gen bệnh. Trong trường hợp, em bé nhận NST X mang gen bệnh từ mẹ là bé trai sẽ là người bị bệnh. Nếu là bé gái sẽ là người mang gen bệnh.

Hình 1: Mô hình di truyền lặn liên kết với NST giới tính X.

Một người nam bị bệnh mang đột biến trên NST X khi sinh con sẽ truyền nhiễm sắc thể X có gen bệnh cho người con gái và truyền nhiễm sắc thể Y cho tất cả con trai. Do đó, tất cả con gái của người nam bị bệnh sẽ là người mang gen bệnh, trong khi các con trai là người khỏe mạnh, không mang gen bệnh.

Một số bệnh suy giảm miễn dịch di truyền liên kết nhiễm sắc thể X:

  • Bệnh Bruton
  • Bệnh suy giảm miễn dịch tổ hợp liên quan đến NST X
  • Hội chứng tăng IgM liên quan đến NST X
  • Bệnh tăng sinh lympho liên quan đến NST X
  • Bệnh u hạt mạn tính liên quan đến NST X
  • Hội chứng Wiskott–Aldrich
  • Thiếu hụt properdin
  • Rối loạn sừng hóa bẩm sinh (Dyskeratosis congenita)
    Mô hình di truyền trội

2.3, Di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường

Đối với gen tuân theo kiểu di truyền trội trên NST thường, một người chỉ cần một bản sao mang đột biến, người đó sẽ là người bị bệnh, ngay cả khi bản sao còn lại bình thường. Các rối loạn này có thể ảnh hưởng đến cả nam và nữ.

Mỗi người con của người bị bệnh có 50% khả năng thừa hưởng bản sao mang đột biến từ bố/mẹ, là người bị bệnh. Nguy cơ này là như nhau trong mỗi lần mang thai.

Gần đây, ngày càng nhiều rối loạn suy giảm miễn dịch được xác định có cơ chế di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường. Một ví dụ là hội chứng hoạt hóa phosphoinositide 3-kinase delta (APDS), gây biểu hiện tương tự suy giảm miễn dịch biến thiên phổ biến. Với sự phát triển của nghiên cứu di truyền, nhiều rối loạn tương tự dự kiến sẽ tiếp tục được phát hiện.

3, Khi nào cần chẩn đoán di truyền bệnh Suy giảm miễn dịch

Trong các tình huống, bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng liên quan đến sự suy giảm miễn dịch, điển hình là nhiễm trùng tái diễn, mức độ nặng và kém đáp ứng với điều như: Viêm đường hô hấp (viêm phổi, viêm tai, viêm xoang), đường tiêu hóa (tiêu chảy kéo dài, kém hấp thu,..). Tiền sử bệnh trong gia đình phù hợp với mô hình di truyền.

Các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân gây suy giảm miễn dịch

  • Tổng phân tích tế bào máu: Kiểm tra số lượng bạch cầu, đặc biệt là Lympho.
  • Định lượng Globulin miễn dịch (IgG, IgA, IgM, IgE): Đánh giá miễn dịch dịch thể.
  • Đo dòng tế bào (Flow Cytometry): Xác định số lượng và tỷ lệ các nhóm tế bào T (CD3, CD4, CD8), tế bào B (CD19).
  • Test chức năng: Đánh giá khả năng đáp ứng của kháng thể sau tiêm vaccine.
  • Di truyền học: Xét nghiệm gen để tìm đột biến (trong thể tiên phát).

Hiện nay có gần 500 bệnh lý di truyền liên quan đến hệ thống miễn dịch đã được ghi nhận.

Các kỹ thuật xác định đột biến gen bệnh lý suy giảm miễn dịch: giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS), giải trình tự toàn bộ exon (WES), giải trình tự panel gen phổ biến.

Các xét nghiệm giải trình toàn bộ exon (WES) hay toàn bộ hệ gen (WGS) thường cần thời gian dài cho quá trình phân tích, thông thường ít nhất là 3 tháng. Trong nhiều tình huống, phòng xét nghiệm có thể yêu cầu bổ sung thêm mẫu từ gia đình để tiến hành các xét nghiệm khác bổ sung. Việc bổ sung thêm mẫu là quan trọng để xác nhận thông tin về tình trạng di truyền của gia đình. Một số trường hợp, kết quả xét nghiệm âm tính, không phát hiện được biến thể gây bệnh là do giới hạn của khoa học. Trong những tình huống đó, phòng xét nghiệm di truyền sẽ cần trao đổi với gia đình bệnh nhân để tìm ra chiến lược phù hợp với từng gia đình.

Xét nghiệm di truyền CMA, Gene panel, WES, WGS…

Xem thêm:

Suy giảm miễn dịch di truyền (phần 1)

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ