Rối loạn phát triển giới tính ở nam giới do thiếu men 5A Reductase: Chẩn đoán, điều trị và dự phòng

1) Tổng quan về rối loạn phát triển giới tính ở nam giới do thiếu men 5a Reductase 
2) Sàng lọc người mang gen bệnh và kế hoạch sinh con khỏe mạnh 
3) Sàng lọc phôi mang gen bệnh

1, Tổng quan về rối loạn phát triển giới tính ở nam giới do thiếu men 5A Reductase

Rối loạn thiếu hụt men 5 alpha reductase
Rối loạn thiếu hụt men 5 alpha reductase

1.1. Đặc điểm bệnh

Dị tật bộ phận sinh dục rất hiếm gặp ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ mắc bệnh là 1 trong 4500 trẻ, do nhiều nguyên nhân trong đó đột biến gen SRD5A2 trên nhiễm sắc thể số 2 là 1 nguyên nhân.

Do đột biến gen SRD5A2, cơ thể bị thiếu hụt 5-alpha-reductase loại 2 (5α-RD2) nên không thể chuyển đổi testosterone thành DHT. DHT có vai trò trong sự hình thành cơ quan sinh dục ngoài của nam giới, sự phát triển của tuyến tiền liệt và kiểu mọc tóc ở nam giới ở tuổi dậy thì. Những cá nhân này về mặt di truyền là nam (XY).

1.2. Biểu hiện bệnh

– Trẻ nhỏ: Các biểu hiện gồm bộ phận sinh dục ngoài trông giống nữ, hoặc không rõ ràng nam/nữ, hoặc nam nhưng dương vật nhỏ (micropenis) và lỗ niệu đạo lệch dưới. 

– Tuổi dậy thì: Do tăng testosterone, cơ thể phát triển đặc điểm nam như tăng cơ bắp, giọng trầm, lông mu và tăng trưởng chiều cao, nhưng ít lông mặt/thân thể. 

– Trưởng thành: Bị vô sinh.

1.3. Xét nghiệm chẩn đoán

– Hóa sinh: đo tỷ lệ testosterone/DHT sau kích thích bằng human chorionic gonadotropin (hCG), nếu tỷ lệ tăng cao thì gợi ý thiếu hụt 5-alpha reductase (độ tin cậy thay đổi theo độ tuổi và mức độ nghiêm trọng).

– Phân tích gen: đột biến gen SRD5A2, (ít nhất đã có 54 đột biến được báo cáo) 

– Có thể kết hợp karyotype: nhiễm sắc thể XY 

1.4. Điều trị

 Phụ thuộc vào biểu hiện lâm sàng và giới tính được nuôi dưỡng. 

– Nếu nuôi dưỡng như nữ, cần phẫu thuật tạo hình trước tuổi dậy thì. 

– Nếu nuôi dưỡng như nam, thực hiện phẫu thuật tạo hình trong năm đầu hoặc thứ hai của cuộc đời. 

– Cần hỗ trợ tâm lý, tư vấn để chọn giới tính phù hợp

1.5. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Người con bị bệnh khi có 2 gen bệnh do nhận được từ cả bố và mẹ.

1.6. Phòng bệnh

Phòng không sinh trẻ bị bệnh. Sàng lọc và phân tích nguy cơ sinh con bị bệnh cho cặp đôi trước khi kết hôn. Chẩn đoán trước sinh, chẩn đoán trước phôi cho các cặp đôi có nguy cơ sinh con bị bệnh, đặc biệt cặp đôi kết hôn cận huyết thống.

Tài liệu tham khảo:

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK539904/ 

https://medlineplus.gov/genetics/gene/srd5a2/#resources

2. Sàng lọc người mang gen bệnh và lựa chọn kế hoạch sinh con khỏe mạnh

Chủ động phòng ngừa bệnh di truyền với các gói xét nghiệm sàng lọc tình trạng mang gen G-Carrier của Genome, giúp các cặp đôi đánh giá nguy cơ di truyền, chọn lựa kế hoạch sinh sản phù hợp để sinh con khỏe mạnh.

2.1. Các gói xét nghiệm

Tại Genome, các xét nghiệm G-Carrier được thiết kế tập trung vào các bệnh lý di truyền có tỷ lệ lưu hành cao trong cộng đồng người Việt cũng như người Châu Á

G-Carrier 30: Sàng lọc 33 gen liên quan đến 30 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao tại Việt Nam. 

G-Carrier 120: Sàng lọc 120 gen liên quan đến 118 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao, được Hiệp hội Di truyền Y học và Hệ gen học (ACMG) khuyến cáo nên sàng lọc đối với cặp đôi có kế hoạch thai sản.

G-Carrier Expand: Một chiến lược toàn diện sàng lọc 420 gen liên quan đến 418 bệnh di truyền.

Yêu cầu và thông số xét nghiệm 

– Loại mẫu: 2-3 mL máu toàn phần chứa trong ống chống đông EDTA

– Độ đọc sâu trung bình: 300X.

– Giải mã các biến thể di truyền (thay thế nucleotide, indel và CNVs) trong phạm vi panel được thiết kế.

– Sử dụng công cụ tích hợp AI, dữ liệu lâm sàng được cập nhật liên tục phục vụ phân tích và phiên giải kết quả.

2.2. Đối tượng thực hiện xét nghiệm

Xét nghiệm G-Carrier đặc biệt được khuyến cáo cho các trường hợp sau:

– Cá nhân/Cặp đôi có kế hoạch mang thai: Chuẩn bị cho kế hoạch thai sản an toàn, chủ động.

– Phụ nữ mang thai: Chuẩn bị cho kế hoạch sàng lọc/chẩn đoán trước sinh phù hợp.

2.3. Phạm vi chỉ định của xét nghiệm

Xét nghiệm G-Carrier đặc biệt được khuyến cáo cho các trường hợp sau:

– Cá nhân/Cặp đôi có kế hoạch mang thai: Chuẩn bị cho kế hoạch thai sản an toàn, chủ động.

– Phụ nữ mang thai: Chuẩn bị cho kế hoạch sàng lọc/chẩn đoán trước sinh phù hợp.

2.4. Thời điểm thực hiện xét nghiệm

Xét nghiệm G-Carrier có thể được thực hiện bất cứ lúc nào, nhưng tốt nhất nên sàng lọc trước khi mang thai để các bậc cha mẹ tương lai có thể cân nhắc về phương án sinh sản phù hợp. Các thời điểm thực hiện xét nghiệm đề xuất bao gồm:

– Trước khi mang thai tự nhiên

– Trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản

– Trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng hoặc trứng hiến tặng.

3. Sàng lọc phôi mang gen bệnh với PGT-M/PGT-Total

PGT Total: Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp - PGT-A Expand, PGT-SR, PGT-M, PGT-HLA
PGT Total: Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp – PGT-A Expand, PGT-SR, PGT-M, PGT-HLA

Gia đình có nguy cơ sinh con mắc bệnh di truyền có thể xem xét lựa chọn kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản bao gồm thụ tinh trong ống nghiệm IVF kết hợp xét nghiệm sàng lọc bệnh lý đơn gen trên phôi (PGT-M/PGT-Total) để lựa chọn phôi không mang gen bệnh.

Hành trình sinh con khỏe mạnh bao gồm các bước như sau:

– Xác định tổn thương di truyền của gia đình

– Thực hiện thụ tinh ống nghiệm

– Nuôi phôi đến ngày 3 – 5

– Sinh thiết một vài tế bào lá nuôi phôi

– Xét nghiệm di truyền trên phôi với PGT-M/ PGT-Total để sàng lọc phôi không mang bệnh/mang gen bệnh

– Chuyển phôi khỏe mạnh không mang bệnh/gen bệnh vào tử cung người mẹ

– Chẩn đoán trước sinh bằng mẫu dịch ối giúp xác nhận thai nhi không mang gen bệnh.

=> Kính mời Quý vị tìm hiểu thêm thông tin về xét nghiệm PGT-M/ PGT-Total:

Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh lý đơn gen (PGT-M)

PGT-Total: Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp PGT-A-Expand, PGT-SR, PGT-M, PGT-HLA

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ