Hội chứng Prader Willi

Hội chứng Prader Willi (hay còn được gọi Hội chứng mất đoạn 15q11) là tình trạng rối loạn hiếm gặp xuất hiện khi sinh ra, có nguyên nhân do mất chức năng 1 gen trên cánh dài của NST 15.

Hội chứng này có thể gây ảnh hưởng đến thể chất, tâm thần và ngôn ngữ hành vi nghiêm trọng.

1. Thông tin về Hội chứng Prader Willi

– Tỷ lệ mắc bệnh: 1/15000- 1/20000 trẻ sơ sinh.

Tuổi thọ trung bình của bệnh nhân mắc Hội chứng Prader Willi có thể giảm tùy vào mức độ nghiêm trọng của triệu chứng bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do yếu tố di truyền, cụ thể là một hoặc nhiều gen bất thường do sai lệch của gen thuộc nhiễm sắc thể (NST) 15. Một số yếu tố gen bất thường bao gồm:

– Trẻ được nhận 2 bản sao NST 15 từ mẹ nhưng không nhận được NST 15 nào từ cha.

– Có những lỗi sai hoặc khiếm khuyết trong gen nằm trên NST số 15

Hội chứng Prader Willi
Hội chứng Prader Willi

2. Một số đặc điểm điển hình của Hội chứng Prader Willi

Hội chứng Prader-Willi có những đặc điểm điển hình xuất hiện ở từng giai đoạn phát triển của trẻ. Dưới đây là mô tả về triệu chứng ở  trong các giai đoạn khác nhau, bao gồm:

Giai đoạn trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

– Trẻ tăng cân chậm và yếu, gây ảnh hưởng đến khả năng vận động và tham gia hoạt động hàng ngày như: Bò, ngồi, đứng hoặc đi bộ

– Trẻ gặp vấn đề về hô hấp, khó thở, thở hổn hển hoặc ngưng thở tạm thời

Giai đoạn ở mầm non và tiểu học

Ảnh hưởng đến khả năng ăn uống của trẻ 

Những khiếm khuyết di truyền trên gen của Hội chứng này phá hủy chức năng điều khiển hormone gây đói, khát và giải phóng hormone nhắc nhở tiết ra chất hỗ trợ tăng trưởng và phát triển giới tính. Vì vậy, gây ảnh hưởng đến khả năng ăn uống của trẻ, làm trẻ có cảm giác ăn không no. Biến chứng về lâu dài là chứng béo phì và những bệnh lý nghiêm trọng như: Đái tháo đường tuýp 2, bệnh tim mạch và đột quỵ, viêm khớp, ngưng thở khi ngủ, giảm năng tuyến sinh dục, loãng xương hoặc nguy cơ vô sinh.

Một trong những dấu hiệu của trẻ mắc hội chứng
Một trong những dấu hiệu của trẻ mắc hội chứng

Hệ thần kinh giao cảm chậm phát triển 

Bên cạnh đó, trẻ mắc hội chứng còn có thể gặp khó khăn trong việc tương tác và kết nối với người xung quanh. Khả năng độc hiểu ngôn ngữ của cơ thể và giao tiếp phi ngôn ngữ giảm, từ đó làm giảm khả năng tham gia vào các tình huống xã hội.

Ở một số trẻ mắc hội chứng có thể gây khó khăn trong việc học tập, đặc biệt là với các kỹ năng như: đọc, viết… Một số trường hợp khác có biểu hiện về tình trạng tâm thần như thiếu chú ý hay tăng động.

Giai đoạn thiếu niên và trưởng thành  

– Không phát triển đầy đủ các đặc điểm về giới tính, thiếu hứng thú với tình dục

– Nhu cầu ăn uống không kiểm soát, có thể dẫn đến tình trạng thừa cân và béo phì

– Chứng vẹo cột sống

– Vấn đề về tim mạch

– Nguy cơ vô sinh

– Những vấn đề về nội tiết: Không sản xuất đủ hormone tuyến giáp, thiếu hụt hormone tăng trưởng, suy thượng thận gây căng thẳng cho cơ thể, không đối phó được với tình trạng nhiễm trùng.

3. Chẩn đoán Hội chứng Prader-Willi

3.1. Chẩn đoán dựa trên các biểu hiện lâm sàng

Để chẩn đoán Hội chứng, có thể dựa theo biểu hiện lâm sàng ở những giai đoạn khác nhau.

Giai đoạn trẻ sơ sinh:

– Khuôn mặt của trẻ có đặc điểm như: Mắt hình quả hạnh nhân, trán thu hẹp, miệng nhỏ, môi trên mỏng

– Giảm trương lực cơ

– Trẻ khóc yếu

– Trẻ phản xạ bú kém, ăn kém

Giai đoạn trẻ lớn hơn:

– Trẻ ăn uống nhiều

– Chậm phát triển trí tuệ

– Tuyến sinh dục phát triển muộn

Nếu trẻ có những triệu chứng lâm sàng kể trên, bệnh nhân sẽ được xét nghiệm công thức máu và áp dụng các phương pháp xét nghiệm đặc biệt để tìm ra bất thường NST.

3.2. PGT-A Expand:  Xét nghiệm di truyền lệch bội NST mở rộng – sàng lọc Prader Willi và các hội chứng vi mất đoạn khác

Trên hành trình không ngừng phát triển và cải tiến xét nghiệm PGT-A, một bước tiến mới, giúp mở rộng khả năng sàng lọc của xét nghiệm PGT-A, được gọi là PGT-A Expand.

Đây là bước tiến mới với công nghệ dựa trên việc kết hợp phân tích dữ liệu giải trình tự xác định đa hình số lượng bản sao (CNV) và phân tích SNP- đa hình đơn Nucleotide (Single Nucleotide Polymorphism) – giúp mở rộng đáng kể khả năng sàng lọc của xét nghiệm PGT-A.

Đa hình đơn nucleotide (SNP) là sự khác nhau giữa các nucleotide đơn ở cùng một vị trí trên hệ gen giữa các cá thể. Các SNP phân bố trên khắp hệ gen, có thể đại diện cho sự khác nhau giữa các cá thể.

Xét nghiệm PGT-A Expand của Genome
Xét nghiệm PGT-A Expand của Genome

Phạm vi xét nghiệm của PGT-A Expand  

– Phát hiện 6 hội chứng vi mất đoạn phổ biến có kích thước >1Mb – bao gồm Hội chứng Prader Willi và các Hội chứng: Hội chứng Wolf-Hirschhorn, Hội chứng Digeorge (Hội chứng mất đoạn 22q11), Hội chứng tiếng mèo kêu (Hội chứng CriduChat), Hội chứng mất đoạn 1p36, Hội chứng Angelman

– Phân tích mức bội thể (Haploid, Triploid)

– Phân tích tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)

– Phát hiện ngoại nhiễm: Đây được xem là nguy cơ hàng đầu gây sai trong xét nghiệm PGT.

PGT-A Expand được chỉ định cho những trường hợp nào?  

Xét nghiệm PGT-A được chỉ định cho trường hợp là các cặp đôi có nguy cơ sinh con mang bất thường số lượng NST:

– Phụ nữ tuổi cao trên 35

– Người nam gặp những vấn đề nam khoa nghiêm trọng

– Có tiền sử sảy thai liên tục hoặc thất bại trong chu kỳ IVF

– Cân nhắc sử dụng phôi nang từ hợp tử thụ tinh bất thường

– Muốn phát hiện mức bội thể, UPD hoặc vi mất đoạn phổ biến.

Xét nghiệm PGT- A Expand được chỉ định cho tất cả các trường hợp được yêu cầu thực hiện xét nghiệm PGT-A, đặc biệt là cho các trường hợp sau đây:

– Phụ nữ tuổi cao có chất lượng phôi không tốt

– Người nam có tỷ lệ cao tinh trùng mang lưỡng bội NST.

– Có tiền sử mang thai đa bội, thai trứng, tiền sử sinh con mang bất thường NST.

– Trường hợp phôi có chất lượng tốt nhưng thất bại làm tổ liên tiếp.

– Tiền sử sảy thai sau khi thực hiện IVF kết hợp PGT-A.

PGT-A Expand: Vượt qua giới hạn của PGT-A 

PGT-Genome: Phân tích di truyền trước chuyển phôi toàn diện

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ