PGT-Total: Tiếp cận thông tin di truyền toàn diện trên phôi

Đây là tên bài báo cáo của ThS Lê Ngọc Yến – Trưởng phòng RnD, Xét nghiệm Genome tại Hội nghị khoa học thường niên của Hội Hỗ trợ Sinh sản TP HN tháng 12/2025. Bài báo cáo đã nhận được nhiều sự chú ý của các chuyên gia, bác sĩ lĩnh vực Hỗ trợ sinh sản, Genome xin được tóm tắt lại nội dung bài báo cáo trong bài viết dưới đây.

I. Phạm vi xét nghiệm PGT-Total

ThS Lê Ngọc Yến báo cáo tại Hội nghị HASAM
ThS Lê Ngọc Yến báo cáo tại Hội nghị HASAM 2025

PGT-Total được xây dựng trên trên nền tảng, mục tiêu cốt lõi của PGT – xét nghiệm di truyền tiền làm tổ, giúp lựa chọn các phôi không mang bất thường di truyền. Các bất thường di truyền có thể gồm các bệnh lý đơn gen, các bất thường về số lượng, cấu truc nhiễm sắc thể (NST).

PGT-Total ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới kết hợp với phân tích các điểm đa hình đơn Nucleotide (SNPs) để xác định bộ haplotype dựa trên các vùng khác nhau của nhiễm sắc thể (NST).

PGT-Total có thể phát hiện đồng thời các bất thường ở cả mức độ nhiễm sắc thể và mức độ gen trong cùng một lần chạy. Đảm bảo tuân thủ các hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE), tuân theo các tiêu chuẩn chất lượng CAP trong xét nghiệm PGT.

Việc này sẽ giúp tối ưu chi phí cho quy trình sinh một em bé khỏe mạnh đồng thời cũng cung cấp cho chúng ta một lượng thông tin lớn hơn so với các xét nghiệm PGT-M thông thường.

II. Bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể thường gặp

1. Số liệu thống kê

Dựa trên nghiên cứu 5.680 cặp đôi sảy thai liên tiếp, có 3,7% mang bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể. Trong đó:
• Chuyển đoạn tương hỗ: 1,4%
• Đảo đoạn: 1,3%
• Chuyển đoạn Robertson: 0,4%
• Bất thường số lượng: 0,6%

2. Chuyển đoạn tương hỗ

Chuyển đoạn tương hỗ là mỗi NST đứt một chỗ và trao đổi đoạn đứt cho nhau, hình thành hai NST mới và cả hai đều thay đổi hình thái nếu đoạn trao đổi khác nhau về kích thước. Đây là dạng bất thường NST phổ biến với tần số lưu hành khoảng 1/500 – 1/625 trong cộng đồng. Người mang chuyển đoạn tương hỗ thường không có biểu hiện bất lợi về kiểu hình nhưng lại đối mặt với nguy cơ sản khoa.

Những người mang chuyển đoạn cân bằng, chuyển đoạn tương hỗ: Có thể tạo ra 20 loại giao tử, nhưng chỉ có 2 loại là khỏe mạnh hoặc mang chuyển đoạn cân bằng; 18 loại còn lại là bất thường => thông thường sẽ gặp thất bại trong chu kỳ IVF

3. Chuyển đoạn Robertson

Chuyển đoạn hòa hợp tâm (Chuyển đoạn Robertson): chuyển đoạn tương hỗ và chỉ xảy ra với NST tâm đầu (NST có tâm gần với đầu), trong đó hai NST bị đứt ngang qua miền gần tâm, các đoạn đứt chuyển đoạn cho nhau tạo nên một NST bất thường chứa nhánh dài của hai NST tâm đầu chuyển đoạn và một NST rất nhỏ chứa nhánh ngắn của hai NST tâm đầu chuyển đoạn, NST này sẽ bị tiêu biến.


Đây là dạng bất thường NST phổ biến với tần số lưu hành khoảng 1/1000 trong cộng đồng. Người mang chuyển đoạn tương hỗ thường không có biểu hiện bất lợi về kiểu hình nhưng lại đối mặt với nguy cơ sản khoa.
Chuyển đoạn Robertson: Phổ biến ở các nhiễm sắc thể số 13, 14, 15, 21, 22. Người mang chuyển đoạn này có nguy cơ tạo ra 8 loại giao tử. Tỷ lệ chỉ có 1/8 là phôi bình thường thực sự, 1/8 là chuyển đoạn cân bằng, còn lại 6/8 là các dạng Trisomy (thừa NST) hoặc Monosomy (thiếu NST) hoặc các dạng bất thường hiếm như double Trisomy hoặc double Monosomy

Case 1: Chuyển đoạn tương hỗ

• Tình trạng: Người bố và ông nội mang chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21 (vị trí q22 và q22.3).
 Kết quả phân tích PGT-Total:
• Phát hiện 6 phôi bị bất thường (lặp đoạn 14 hoặc mất đoạn 21).
• Khi phân tích SNP, sử dụng các marker liên kết các điểm vị trí tổn thương, vị trí đứt gãy của NST, thì phát hiện
o Phôi 1 & 2: Khỏe mạnh hoàn toàn (không mang đoạn chuyển giữa NST 14 và 21).
o Phôi 3: Mang chuyển đoạn cân bằng (giống bố).
Ý nghĩa: PGT-Total giúp gia đình chọn được 2 phôi hoàn toàn, giúp thế hệ sau chấm dứt được vòng lặp sảy thai hoặc khó khăn sinh sản.

III Đảo đoạn

1. Thông tin tổng quan đảo đoạn

Đảo đoạn xảy ra khi một NST bị phá vỡ ở hai vùng và kết quả là đoạn ADN được đảo ngược và chèn lại vào NST. Một số bệnh lý đôi khi được tìm thấy do đảo đoạn, chủ yếu là do sự gián đoạn trực tiếp của một gen hoặc do thay đổi biểu hiện gen.

Một số NST thường xảy ra đảo đoạn:
– Đảo đoạn quanh tâm NST 9 (inv9(p11q13) kích thước 10-15 Mb và inv9(p12q13) kích thước 20-22 Mb là hai đột biến phổ biến nhất chiếm 1 đến 3% dân số chung.
– Đảo đoạn quanh tâm NST Y cũng được ghi nhận tương đối thường gặp trong một số quần thể (đặc biệt châu Âu).
Bệnh lý di truyền liên quan đến đảo đoạn: Được biết đến nhiều nhất là Hemophilia A.
Đảo đoạn tạo ra giao tử mang bất thường cấu trúc bao gồm:
– Bất thường mất đoạn, lặp đoạn.
– Đối với đảo đoạn quanh tâm có thể tạo ra giao tử monosomy một phần.

2, Case bệnh Genome nhận được và phân tích:

• Tình trạng: Gia đình cần sàng lọc bất thường đảo đoạn inv(9)(p11q13), nhu cầu kết hợp sàng lọc bất thường số lượng NST, nên đã lựa chọn xét nghiệm PGT-Total
• Kết quả: Phôi số 1 bất thường lệch bội 24 NST, Phôi số 2 mang đảo đoạn quanh tâm NST số 9, phôi số 4 phát hiện đa bội 69,XXX (Đa bội).
• chọn được 1 phôi (số 3) không mang đảo đoản và không mang bất thường số lượng NST.
• Kỹ thuật: Các xét nghiệm PGT-A thông thường (đếm cường độ tín hiệu) thường bỏ sót phôi tam bội vì tỷ lệ các nhiễm sắc thể vẫn “cân bằng” với nhau. Chỉ có phân tích SNP mới phát hiện được sự hiện diện của 3 bộ haplotype.

IV, Đơn bội, đa bội, mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)

  1. Tổng quan

Trong 1 nghiên cứu cho thấy:

Trong 8.877 phôi nang được kết hợp phân tích bằng PGT kết hợp đánh giá số bản copy và phân tích SNP cho thấy,

    • 1.3% (118/8,877) phôi mang bất thường số lượng NST mở rộng, trong đó:
    • Tam bội: 63.6% (75/118)
    • Đơn bội/UPD: 35.6% (42/118)
    • Tứ bội: 0.9% (1/118)

Tình trạng mất tính dị hợp tử

Tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH): Tình trạng bất thường di truyền xảy ra khi phôi nhận cả 2 NST tương đồng (hoặc 1 phần cặp NST tương đồng) từ duy nhất người bố hoặc người mẹ, thay vì một bản sao từ bố hoặc một bản sao từ mẹ. Tần suất lưu hành cộng gộp trên tất cả NST: 1/2000.
=> Tình trạng mất tính dị hợp tử UPD làm tăng nguy cơ:
– Rối loạn di truyền do lỗi in dấu (Prader Willi, Angel Man…), biểu hiện bệnh di truyền lặn khi 2 bản sao alen gây bệnh được di truyền từ bố hoặc mẹ
– Bất thường kiểu hình khi xảy ra ở các NST 6,7, 11, 14,15,20
Bất thường số lượng NST (Lệch bội và đa bội) – Hai dạng bất thường phổ biến nhất gây sảy thai


2. Case 3: Bệnh Hemophilia và UPD toàn bộ

Gia đình có nguyện vọng sàng lọc đột biến gây bệnh trên gen HBB và Sàng lọc bất thường NST 
• Kết quả:
• Phôi số 1 và phôi số 3: Không phát hiện bất thường lệch bội số lượng 24 NST nhưng mang gen bệnh (dị hợp tử c.52A>T trên gen HBB)
• Phôi số 2: Không mang gen bệnh nhưng Phát hiện bất thường mất tính dị hợp tử (UPD) trên toàn bộ 23 NST (46xx) tuy nhiên cả 2 bộ NST của phôi đều có nguồn gốc đến từ bố.

IV. Kết luận

• Xét nghiệm PGT-Total có thể sử dụng để phát hiện bất thường cấu trúc NST bao gồm chuyển đoạn cân bằng, chuyển đoạn Robertson, đảo đoạn…là nguyên nhân chiếm tỉ lệ cao trong sảy thai liên tiếp và thất bại chu kỳ IVF.
• PGT-Total là giải pháp toàn diện kết hợp sàng lọc đa tổn thương trong cùng một xét nghiệm, cung cấp thông tin di truyền toàn diện trên phôi.
• Đặc biệt phù hợp cho các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn tương hỗ, dạng bất thường phổ biến nhưng thách thức với PGT truyền thống
• Rút ngắn thời gian trả kết quả: 18 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ.
• Quy trình thực hiện và báo cáo tuân thủ hướng dẫn ESHRE/quy trình chuẩn chất lượng CAP về PGT

Clip bài báo cáo

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ