Chủ động “có con khỏe mạnh” trước khi thực hiện IVF với sàng lọc trước mang thai

Có rất nhiều cặp đôi đã thực hiện mang thai nhờ thụ tinh ống nghiệm (IVF) cùng với đó là lựa chọn sàng lọc di truyền trước chuyển phôi để chọn phôi khỏe mạnh. Xa hơn nữa, hiện nay nhiều cặp đôi, gia đình đã biết đến xét nghiệm di truyền trước mang thai, đánh giá những nguy cơ di truyền tiềm ẩn trước khi quyết định sinh con. Từ xét nghiệm di truyền trước mang thai đến phân tích di truyền cho phôi là hành trình không chỉ của gia đình, của cặp đôi mà đồng hành cần có bác sĩ sản phụ khoa, bác sĩ hỗ trợ sinh sản và chuyên gia di truyền. Hy vọng qua bài viết này, Genome sẽ mang đến cho các gia đình và bác sĩ những thông tin hữu ích cho hành trình “chủ động” này.

Cặp đôi khỏe mạnh có thể sinh con bị bệnh

Chúng ta đều biết nếu 2 người cùng mang 1 gen bệnh thể ẩn không có biểu hiện gì bên ngoài, hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng nếu 2 người sinh con có khả năng em bé bị bệnh lên đến 25%, 50% em bé sẽ mang gen bệnh. Trường hợp gen nằm trên nhiễm sắc thể (NST) giới tính, tỉ lệ em bé bị bệnh có thể lên tới 50%.

Các nghiên cứu phân tích tổng hợp phát hiện bệnh di truyền là nguyên nhân khiến 18% trẻ sơ sinh nhập viện và 20% tử vong ở các nước phát triển (1). Khoảng 80% trẻ em bị bệnh di truyền sinh ra trong gia đình không có tiền sử mắc bệnh di truyền.

Khuyến cáo của các tổ chức trên thế giới về việc sàng lọc trước mang thai

Khuyến cáo của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG): Các cặp vợ chồng nên được sàng lọc gen bệnh trước khi quyết định mang thai [3].
Khuyến cáo của Hội Di truyền Y học Hoa Kỳ (ACMG): Sàng lọc người mang gen nên đảm bảo tính trung lập về khía cạnh chủng tộc, từ đó có thể bao quát được sự đa dạng của các nhóm bệnh lý [4].
• Nhóm các gen cấp độ 1 có tỉ lệ người mang gen trong quần thể ≥ 1/50 được Hội Di truyền Y học Hoa Kỳ (ACMG) và Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) khuyến cáo trong sàng lọc người mang gen dựa trên các thống kê trung lập về dân số và chủng tộc.
• Việc sàng lọc mở rộng với các gen và bệnh lý có tỉ lệ người mang gen thấp hơn trong quần thể cũng được khuyến nghị nhằm cung cấp lượng thông tin tối đa về tình trạng mang gen cũng như bao quát được sự đa dạng về dân số và chủng tộc.

Chỉ định xét nghiệm di truyền như thế nào cho các cặp đôi

Hiện nay, có khoảng 7000 bệnh di truyền đơn gen đã được báo cáo trong Cơ sở dữ liệu Di truyền Mendel Trực tuyến ở Người (Online Mendelian Inheritance in Man-OMIM) và số liệu vẫn lên tục được cập nhật. Nhờ công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới, một xét nghiệm có thể xác định tổn thương di truyền của nhiểu gen, nhiều bệnh, như giải trình tự đích (Targeted sequencing), toàn bộ hệ gen mã hoá, lên đến 22.000 gen (Whole Exome Sequencing-WES) và thậm chí toàn bộ hệ gen (Whole Genome Sequencing-WGS).

Câu hỏi được đặt ra cho các bác sĩ cũng là băn khoăn của các cặp đôi là: vậy xét nghiệm bao nhiêu gen, có phải càng nhiều càng tốt không, có những hướng dẫn như thế nào để lựa chọn…

Đây là điều cần trao đổi chặt chẽ giữa bác sĩ lâm sàng, chuyên gia di truyền, dựa vào các biểu hiện của cặp đôi, lịch sử của gia đình, hướng dẫn chuyên môn của các tổ chức để đưa ra chỉ định phù hợp.

Genome đã triển khai và tối ưu xét nghiệm sàng lọc người mang gen bệnh – G-Carrier với nhiều tùy chọn khác nhau:

G-Carrier-Thalas Sàng lọc 3 gen liên quan đến bệnh Tan máu bẩm sinh thể Alpha và Beta
G-Carrier-30 Sàng lọc 33 gen liên quan đến 30 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao tại Việt Nam.
G-Carrier-120 Sàng lọc 120 gen liên quan đến 119 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao, được Hiệp hội Di truyền Y học và Hệ gen học (ACMG) khuyến cáo nên sàng lọc đối với cặp đôi có kế hoạch thai sản.
G-Carrier-Expand Một chiến lược toàn diện sàng lọc 420 gen liên quan đến 418 bệnh di truyền

Tuy nhiên việc chỉ định xét nghiệm nào phù hợp một lần nữa chúng tôi muốn nhấn mạnh, cần sự trao đổi chặt chẽ giữa chuyên gia di truyền, bác sĩ lâm sàng và gia đình.

(Tham khảo thêm clip bài báo cáo: Sàng lọc người mang gen cập nhật khuyến cáo trong Hỗ trợ sinh sản)

Cặp đôi có nguy cơ sinh con bị bệnh và lựa chọn sàng lọc phôi

Sau khi có kết quả xét nghiệm gen chỉ ra rằng cặp đôi có nguy cơ cao sinh con mang bệnh và có thể làm thụ tinh ống nghiệm, lựa chọn PGT-M/ PGT-Total để sàng lọc, lựa chọn phôi khỏe mạnh. (Loại bỏ trường hợp, cặp đôi tuy mang gen nhưng không mang nguy cơ cao – tức là có nguy cơ thấp sinh con mang bệnh, hoặc nguy cơ sinh con mang bệnh nhưng tùy biến thể mà bệnh nhẹ hay nặng… kết quả rất đa dạng). Ở đây chúng tôi chỉ đang nói đến trường hợp có nguy cơ cao sinh con bệnh và lựa chọn IVF + PGT-M/PGT-Total.

Dựa trên kết quả xét nghiệm gen của cặp đôi và gia đình (xác định được tổn thương di truyền), việc chỉ định xét nghiệm cho phôi sẽ “dễ dàng” hơn.

Như các bác sĩ đã biết, phân tích di truyền trước chuyển phôi PGT-M là xét nghiệm phức tạp nhất trong các xét nghiệm PGT. Quy trình của PGT-M yêu cầu tư vấn di truyền riêng cho từng bệnh nhân bao gồm các bước chính:

• Tư vấn di truyền và xác định tổn thương gen: Xác định nguy cơ bệnh lý di truyền, tư vấn các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh và thiết lập mô hình di truyền trong gia đình.

• Set-up PGT-M: quy trình PGT-M được thiết kế cho từng gia đình dựa trên thông tin về vị trí tổn thương và bệnh lý gặp phải.

• Thực hiện IVF và sinh thiết phôi: Phân tích kiểu gen của các STR trên mẫu phôi. Xác định haplotype nguy cơ và haplotype không nguy cơ trên các mẫu phôi, xác định được tình trạng tổn thương của phôi.

Như vậy, nếu cặp đôi và gia đình đã thực hiện xét nghiệm G-Carrier quá trình làm PGT-M/PGT-Total sẽ “thuận lợi” hơn nhiều.

(Tham khảo thêm bài báo cáo Bài báo cáo: “Hành trình từ em bé bị bệnh đến em bé khỏe mạnh: Tích hợp các giải pháp di truyền” – PGS.TS Nguyễn Đăng Tôn )

PGT-M và PGT-Total

Thuật ngữ PGT-M: Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh lý đơn gen có lẽ đã rất quen thuộc với các bác sĩ và các gia đình vậy PGT-Total được nhắc trong bài là gì?

Genome đơn vị thực hiện cả 2 xét nghiệm xin khẳng định với các bác sĩ, PGT-Total có rất nhiều khác biệt, ưu điểm so với PGT-M như sau:

*) PGT-Total dành cho Gia đình mang từ hai tổn thương di truyền đơn gen trở lên (với PGT-M 1 lần chạy chỉ phân tích được 1 tổn thương di truyền).

*) PGT-Total dành cho: Gia đình mang tổn thương di truyền đơn gen cần sàng lọc và có nguyện vọng kết hợp sàng lọc:

– Kết hợp phân tích lệch bội số lượng NST trước chuyển phôi (PGT-A Expand/ PGT-A)

– Kết hợp phân tích PGT-SR với tổn thương vi mất đoạn, đảo đoạn…

– Kết hợp phân tích phù hợp HLA giữa phôi được sàng lọc và người con bị bệnh của gia đình

*) PGT-Total có thời gian chỉ từ 2 tuần – Một giải pháp trong trường hợp bệnh nhân cần kết quả PGT-M trong thời gian ngắn vẫn đảm bảo xét nghiệm tuân thủ hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

*) PGT Total ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới kết hợp với phân tích các điểm đa hình đơn Nucleotide (SNPs) để xác định bộ haplotype dựa trên các vùng khác nhau của nhiễm sắc thể (NST).
Công nghệ SNP kết hợp công nghệ tin sinh đột phá giúp cho các xét nghiệm PGT-Total có thể phát hiện đồng thời các bất thường ở cả mức độ nhiễm sắc thể và mức độ gen trong cùng một lần chạy. Đảm bảo tuân thủ các hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

(Tham khảo thêm clip bài báo cáo))

Kết luận lại:

Genome với vai trò là đơn vị xét nghiệm di truyền chuyên sâu đã ghi dấu với các xét nghiệm tiền làm tổ (PGT) giờ đây vinh dự đồng hành cùng các bác sĩ, và gia đình trong hành trình xa hơn, từ khi xác định cặp đôi có nguy cơ sinh con có nguy cơ mắc bệnh di truyền hay không (với G-Carrier và các xét nghiệm di truyền khác như WGS, WES, Genpanel…). Đây là lựa chọn chủ động trong tương lai của nhiều gia đình làm IVF, cũng là bài toán các trung tâm hỗ trợ sinh sản đồng hành với các gia đình.

Nhưng thông tin trong bài viết mang tính khái quát, để được tư vấn chi tiết hơn cho từng case bệnh, quý bác sĩ và gia đình vui lòng liên hệ để nhận được ý kiến chuyên môn từ các chuyên gia di truyền giàu kinh nghiệm của Genome.

Mỗi thành tựu của Genome đều ghi dấu ấn của đội ngũ chuyên gia tư vấn di truyền
Đội ngũ chuyên gia Genome sẵn sàng đồng hành cùng các bác sĩ và gia đình

Tài liệu tham khảo

1. Kingsmore S. (2012). Comprehensive carrier screening and molecular diagnostic testing for recessive childhood diseases. PLoS currents, 4, e4f9877ab 8ffa9. https://doi.org/10.1371/4f9877ab8ffa9
2. The American Congress of Obstetricians and Gynecologists (ACOG) (2017, February 7). ACOG Recommends Offering Additional Carrier Screening to All Women, Regardless of Ethnicity or Family History. https://www.acog.org/news/news-releases/2017/02/acog-recommends-offering- additional-carrier- screening -to-all-women
3. Committee Opinion No. 690: Carrier Screening in the Age of Genomic Medicine, Obstetrics and Gynecology, 2017, 129(3), e35-e40.
4. Gregg AR, Aarabi M, Klugman S, et al. Screening for autosomal recessive and X-linked conditions during pregnancy and preconception: a practice resource of the American College of Medical Genetics and Genomics (ACMG) [published correction appears in Genet Med. 2021 Aug 27;:]. Genet Med. 2021;23(10):1793-1806.doi:10.1038/s41436-021-01203-z

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ