Báo cáo ca bệnh: người cha mang chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21 thực hiện chu kỳ IVF và xét nghiệm PGT-Total để sàng lọc phôi khỏe mạnh 

Đặt vấn đề

Chuyển đoạn tương hỗ (Reciprocal translocations) là hiện tượng tái sắp xếp cấu trúc nhiễm sắc thể (NST), trong đó hai NST không tương đồng xảy ra đứt gãy (tại breakpoint) và trao đổi vật chất di truyền cho nhau [2]. Đây là một dạng chuyển đoạn cân bằng khi tổng lượng vật chất di truyền không thay đổi, và là dạng bất thường NST phổ biến nhất với tần số lưu hành khoảng 1/500 trong cộng đồng [1]. Người mang chuyển đoạn tương hỗ thường không có biểu hiện bất lợi về kiểu hình, nhưng lại đối mặt với nguy cơ sản khoa do quá trình giảm phân tạo ra tỷ lệ lớn giao tử mất cân bằng, dẫn đến sự hình thành phôi mang bất thường di truyền. Các nguy cơ sản khoa người mang chuyển đoạn tương hỗ có thể mắc phải bao gồm sảy thai, thai lưu, tái diễn và/hoặc sinh con mắc các bệnh lý di truyền [1, 2].

Bài báo cáo mô tả ca bệnh với cặp đôi có người chồng mang chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21 thực hiện chu kỳ IVF và xét nghiệm PGT-Total để sàng lọc phôi khỏe mạnh.

Mô tả ca bệnh

Cặp vợ chồng chưa có con, người chồng 34 tuổi và người vợ 33 tuổi. Cặp vợ chồng đã thực hiện xét nghiệm NST đồ và phát hiện người chồng mang bất thường chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21: 46,XY,t(14;21)(q22;q22.1). Người vợ có tăng kích thước vùng cuống vệ tinh trên nhánh ngắn NST số 15:46, XX,15pstk+. Bố chồng và mẹ chồng đã thực hiện xét nghiệm NST đồ và phát hiện bố chồng mang bất thường chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21: 46,XY,t(14;21)(q22;q22.3); Mẹ chồng không phát hiện bất thường NST. Bệnh nhân thực hiện chu kỳ IVF và thu được 9 phôi.

Hình 1: Kết quả xét nghiệm NST đồ của người bố chồng bất thường chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21: 46,XY,t(14;21)(q22;q22.1)

Phương pháp xét nghiệm:

• TTXN Genome nhận được mẫu của 9 phôi. 
• Chỉ định: PGT-Total – Chuyển đoạn tương hỗ giữa NST 14 và 21.

Hình 2: Sơ đồ phả hệ của gia đình

Kết quả

Bảng 1: Kết quả xét nghiệm PGT-A Expand

Phôi  Kết quả 
Phôi 1 Phát hiện bất thường lệch bội số lượng NTS (thể khảm): +1 (55%), +18 (55%)
Phôi 2 Không phát hiện bất thường lệch bội số lượng 24 NTS
Phôi 3 Phát hiện bất thường lệch bội số lượng NTS (thể khảm): -19 (30%)
Phôi 4 Phát hiện lặp đoạn 56Mb trên NTS 14(q22.1q32.33), mất đoạn 5.73Mb trên nhiễm sắc thể 21(q22.2q22.3)
Phôi 5 Phát hiện bất thường lệch bội số lượng NTS: -15; mất đoạn 32Mb trên NTS 14(q11.1q22.1); thêm đoạn 33.7Mb trên NTS 21(q11.2q22.3)
Phôi 6 Phát hiện mất đoạn 32Mb trên NTS 14(q11.1q22.1); thêm đoạn 33.7Mb trên nhiễm sắc thể 21(q11.2q22.3)
Phôi 7 Phát hiện bất thường lệch bội số lượng NTS (thể khảm): -19 (50%); lặp đoạn 56Mb trên NTS 14(q22.1q32.33), mất đoạn 5.73Mb trên NTS 21(q22.2q22.3)
Phôi 8 Phát hiện lặp đoạn 56Mb trên NTS 14(q22.1q32.33), mất đoạn 5.73Mb trên NTS 21(q22.2q22.3)
Phôi 9 Phát hiện lặp đoạn 56Mb trên NTS 14(q22.1q32.33), mất đoạn 5.73Mb trên nhiễm sắc thể 21(q22.2q22.3)

Phôi 1, 2, 3 được sử dụng để kiểm tra các bất thường cấu trúc 

Bảng 2: Kết quả xét nghiệm PGT-SR

Phôi  Kết quả 
Phôi 1 Không mang bất thường chuyển đoạn giữa NST 14 và NST 21 t(14;21)
Phôi 2 Không mang bất thường chuyển đoạn giữa NST 14 và NST 21 t(14;21)
Phôi 3 Mang bất thường chuyển đoạn giữa NST 14 và NST 21 t(14;21)

Kết luận

Trong 9 phôi chỉ duy nhất một phôi (phôi thứ 2) là không phát hiện bất thường lệch bội số lượng 24 nhiễm sắc thể và không mang bất thường chuyển đoạn giữa NST 14 và NST 21 t(14;21). Kết quả đã được chuyển đến Bác sĩ, TT HTSS và gia đình để hỗ trợ lựa chọn phôi chuyển.

Về xét nghiệm PGT-Total

PGT-Total: Xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi tích hợp: PGT-A-Expand, PGT-SR, PGT-M, PGT-HLA Matching

PGT-A-Expand
– Phát hiện bất thường lệch bội ở 24 NST
– Phát hiện bình thường cấu trúc NST >4Mb
– Phát hiện mức bội thể (đơn bội, đa bội)
– Phân tích tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)
– Phát hiện 6 vi mất đoạn có kích thước >1mb
– Phát hiện các nhóm ngoại nhiễm

PGT-SR
Giúp phát hiện các phôi mang bất thường cấu trúc NST có tính di truyền, chỉ định cho các cặp vợ chồng mang chuyển đoạn NST cân bằng (chuyển đoạn Robertson, chuyển đoạn tương hỗ).

PGT-M
PGT-M có khả năng phân tích các tổn thương gây bệnh (trực tiếp) và bộ Haplotype (SNP) liên kết với tổn thương (gián tiếp).

PGT-HLA Matching
– Xác định tương hợp hệ thống kháng nguyên bạch cầu người (HLA)
– Cho phép lựa chọn phôi phù hợp HLA với những người thân, anh/chị bị bệnh, từ đó giúp thu thập tế bào gốc phục vụ điều trị.

PGT-Total được chỉ định cho những trường hợp nào?

*Gia đình mang tổn thương di truyền đơn gen cần sàng lọc và có nguyện vọng kết hợp sàng lọc:
– Kết hợp phân tích lệch bội số lượng NST trước chuyển phôi (PGT-A Expand)
– Kết hợp phân tích phù hợp HLA giữa phôi được sàng lọc và người con bị bệnh của gia đình
*Gia đình mang từ hai tổn thương di truyền đơn gen trở lên:
– Một giải pháp trong trường hợp bệnh nhân cần kết quả PGT-M trong thời gian ngắn vẫn đảm bảo xét nghiệm tuân thủ hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

Xem thêm về PGT-Total

Tài liệu tham khảo
1. Mackie Ogilvie, C. and Scriven, P. N. (2002), “Meiotic outcomes in reciprocal translocation carriers ascertained in 3-day human embryos”, Eur J Hum Genet. 10(12), pp. 801-6. 
2. Verdoni, A., et al. (2021), “Reproductive outcomes in individuals with chromosomal reciprocal translocations”, Genet Med. 23(9), pp. 1753-1760. 

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ