Theo Hướng dẫn “Chuyên môn kỹ thuật trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh” do Bộ Y tế ban hành ngày 21/04/2020, sàng lọc trước sinh là bước quan trọng giúp phát hiện sớm nguy cơ bất thường NST ở thai nhi. Bài viết dưới đây tổng hợp các đối tượng và thời điểm cần thực hiện sàng lọc trước sinh theo khuyến cáo này.

1. Trường hợp nên thực hiện sàng lọc trước sinh?
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, đối tượng thực hiện sàng lọc trước sinh là phụ nữ mang thai trong các giai đoạn của thai kỳ, đặc biệt ở 3 tháng đầu của thai kỳ, nhằm phát hiện sớm các bất thường về NST, hình thái thai nhi.
Đặc biệt, việc sàng lọc trước sinh được khuyến khích đối với các trường hợp có yếu tố nguy cơ dưới đây:
- Tiền sử sinh con dị tật bẩm sinh
- Tiền sử gia đình có bệnh lý di truyền
- Kết quả siêu âm hoặc xét nghiệm có dấu hiệu bất thường
- Nghi ngờ mang gen bệnh (ví dụ: Thalassemia)
Ngoài ra, theo Quyết định 1807/QĐ-BYT, việc sàng lọc có thể được mở rộng đối với các trường hợp có chỉ định chuyên môn, bao gồm cả việc đánh giá nguy cơ di truyền từ phía bố và mẹ.
2. Phương pháp sàng lọc, chẩn đoán bất thường NST ở thai nhi
2.1. Sàng lọc
– Đối tượng: Phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu thai kỳ.
– Phương pháp
+ Siêu âm thai: để xác định số lượng thai, đo chiều dài đầu mông của thai với mục đích xác định tuổi thai tương ứng 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày, khảo sát cấu trúc thai, đo khoảng sáng sau gáy, xương mũi và các dấu hiệu khác.
+ Xét nghiệm máu mẹ: ngoài việc tổng phân tích tế bào máu ngoại vi để sàng lọc bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia sẽ xét nghiệm các chất PAPP-A (Pregnancy Associated Plasma Protein A) và free beta hCG (free beta human Chorionic Gonadotropin) để sàng lọc các bất thường nhiễm sắc thể.
Để sàng lọc các bất thường nhiễm sắc thể có thể sử dụng 2 chỉ số PAPP- A và free beta hCG và các chỉ số siêu âm trên các chương trình tính nguy cơ phù hợp.
+ Xét nghiệm ADN của thai nhi lưu hành trong máu mẹ (kỹ thuật sàng lọc trước sinh không xâm lấn – NIPT) để sàng lọc các bất thường nhiễm sắc thể của thai nhi.
Khuyến cáo: tuần thai để thực hiện xét nghiệm NIPT nên ≥ 10 tuần sau khi có kết quả siêu âm thai và được chuyên gia tư vấn di truyền tư vấn để có chỉ định phù hợp. Xét nghiệm này có thể thay thế xét nghiệm PAPP-A và free beta hCG hoặc bổ sung cho các xét nghiệm trên tùy theo trường hợp.

2.2. Chẩn đoán
– Đối tượng
+ Những phụ nữ mang thai có bất thường hình thái thai nhi và/hoặc có kết quả sàng lọc nguy cơ cao bất thường nhiễm sắc thể hoặc một số bệnh lý di truyền.
+ Những phụ nữ mang thai có nguy cơ sinh con dị tật bẩm sinh dựa trên tiền sử gia đình và có thể chẩn đoán bằng các kỹ thuật phù hợp.
– Phương pháp
+ Sử dụng kỹ thuật siêu âm phù hợp để chẩn đoán các hình thái bất thường của thai nhi.
+ Sử dụng các kỹ thuật xét nghiệm di truyền phù hợp để xác định bất thường gen, nhiễm sắc thể.
3. Quy trình thực hiện sàng lọc, chẩn đoán
3.1. Thời điểm sàng lọc trước sinh
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, quy trình sàng lọc và chẩn đoán trước sinh được triển khai theo từng bước, kết hợp giữa siêu âm, xét nghiệm và đánh giá nguy cơ nhằm xác định sớm các bất thường của thai nhi.
3.2. Quy trình thực hiện sàng lọc, chẩn đoán
Phụ nữ mang thai nên được sàng lọc từ tuần thai thứ 10 đến 13 tuần 6 ngày (tính tuổi thai theo chiều dài đầu mông của thai nhi, hạn chế tối đa tính tuổi thai theo kỳ kinh cuối cùng của phụ nữ mang thai) theo trình tự sau:
– Siêu âm thai để xác định số lượng thai, vị trí bánh rau, đo chiều dài đầu mông để xác định tuổi thai, khảo sát hình thái, cấu trúc thai, đo khoảng sáng sau gáy và các dấu hiệu siêu âm khác (nếu có) để tính nguy cơ mắc thể ba nhiễm 21, 18 và 13.
Trường hợp siêu âm phát hiện thấy thai nhi có bất thường nặng, tiên lượng thai kỳ xấu, không thể chữa khỏi hoặc không thể sống sau sinh thì tư vấn, hội chẩn chấm dứt thai kì. Các trường hợp khác thực hiện tiếp các bước sau đây:
– Thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh bằng phương pháp sinh hóa miễn dịch để định lượng PAPP-A và free beta hCG, kết hợp thông tin lâm sàng, siêu âm để tính nguy cơ thai bị bất thường nhiễm sắc thể 21, 18 và 13.
– Trong trường hợp phụ nữ mang thai muốn thực hiện xét nghiệm sàng lọc bằng ADN của thai nhi lưu hành trong máu mẹ thì có thể thực hiện xét nghiệm này từ tuần thai thứ 10 của thai kỳ. Tuy nhiên trước đó cần siêu âm thai và đánh giá tiền sử mẹ để loại trừ một số trường hợp không thể chỉ định làm xét nghiệm này.
Ngưỡng nguy cơ sẽ do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện sàng lọc lựa chọn dựa trên điều kiện kỹ thuật, loại sinh phẩm, trang thiết bị, bằng chứng khoa học và chương trình tính nguy cơ.
+ Nếu kết quả sàng lọc nguy cơ thấp (kết quả siêu âm thai, kết quả xét nghiệm các chất PAPP-A và free beta hCG hoặc kết quả NIPT): hướng dẫn phụ nữ mang thai khám thai theo định kỳ.
+ Nếu kết quả sàng lọc nguy cơ cao (kết quả siêu âm thai, kết quả xét nghiệm các chất PAPP-A và free beta hCG hoặc kết quả NIPT): tư vấn để chẩn đoán trước sinh hoặc tư vấn phụ nữ mang thai chỉ có xét nghiệm các chất PAPP- A và free beta hCG nguy cơ cao làm xét nghiệm sàng lọc bằng ADN của thai nhi lưu hành trong máu mẹ (để tăng hiệu quả của sàng lọc) trước khi quyết định thực hiện chẩn đoán trước sinh.
Thực hiện thủ thuật lấy mẫu gai rau (tuần thai 11 đến 14) để xét nghiệm di truyền chẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật phù hợp.
+ Trường hợp không phát hiện được bất thường nhiễm sắc thể: hướng dẫn phụ nữ mang thai khám thai theo định kỳ.
+ Trường hợp phát hiện được bất thường nhiễm sắc thể: cần hội chẩn, nếu tiên lượng thai kỳ xấu, không thể điều trị hoặc không thể sống sau sinh sẽ tư vấn chấm dứt thai kỳ.
+ Trường hợp có chỉ định xét nghiệm gen, chuyên gia tư vấn di truyền sẽ tư vấn căn cứ vào kết quả xét nghiệm.
4. Các xét nghiệm sàng lọc trước sinh có tại Genome
4.1. Xét nghiệm Double Test
Double test là xét nghiệm kiểm tra và định lượng nồng độ β-hCG tự do và PAPP-A trong máu của phụ nữ mang thai, kết hợp với siêu âm độ mờ da gáy, tuổi mẹ, tuổi thai nhi… để đánh giá nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể ở thai nhi như hội chứng Down (Trisomy 21), Edwards (Trisomy 18) và Patau (Trisomy 13)
Xét nghiệm Double test được thực hiện vào khoảng tuần thứ 11 đến 13 của quý I thai kỳ.
4.2. Sàng lọc trước sinh không xâm lấn E-NIPT
Cùng với Double test, NIPT (Non-Invasive Prenatal Test) đều là các xét nghiệm sàng lọc trước sinh không xâm lấn, an toàn cho thai phụ và thai nhi giúp phát hiện ra nhiều bất thường của thai nhi. NIPT có thể sàng lọc cho thai phụ từ tuần thai thứ 10.
Hiện nay, E-NIPT tại Genome ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) kết hợp bước làm giàu DNA thai nhi (cffDNA), từ đó cải thiện độ chính xác và mở rộng khả năng phát hiện các bất thường di truyền.
E-NIPT Genome đạt chuẩn công nhận chất lượng CAP (Mỹ) cho tất cả 5 nhóm xét nghiệm: E-NIPT 3, E-NIPT 7, E-NIPT 23, E-NIPT 23, E-NIPT 23 Plus.
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
Phạm vi xét nghiệm của E-NIPT Genome
– Bất thường số lượng NST gây ra các Hội chứng nghiêm trọng thường gặp như: Down, Edward, Patau
– Bất thường số lượng NST giới tính: Turner (XO), Klinefelter (XXY), Triple X (XXX), Jacobs (XYY)
– Bất thường số lượng 19 NST khác
– Bất thường 86 Hội chứng Vi mất đoạn/lặp đoạn
| TÌM HIỂU THÊM THÔNG TIN VỀ XÉT NGHIỆM E-NIPT GENOME TẠI ĐÂY! |
Nguồn tham khảo:
Quyết định 1807/QĐ-BYT 2020 chuyên môn kỹ thuật sàng lọc chẩn đoán điều trị trước sinh sơ sinh




