Tình trạng mất tính dị hợp tử UPD có thể được sàng lọc bởi PGT Genome 

Trong quá trình phát triển phôi, một số bất thường di truyền có thể xảy ra và tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe di truyền, một trong số đó là tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD). Xét nghiệm PGT-A trong phạm vi của mình chưa thể sàng lọc tình trạng UPD. Tại Genome, UPD có thể được sàng lọc bởi các xét nghiệm: PGT-A-Plus, PGT-A-Expand và PGT-Total. 

1. UPD là gì?

UPD (Uniparental Disomy) là tình trạng bất thường di truyền xảy ra khi phôi nhận cả 2 nhiễm sắc thể (NST) tương đồng (hoặc một phần cặp NST tương đồng) từ duy nhất bố hoặc mẹ, thay vì nhận một bản sao từ bố và một bản sao từ mẹ.

Đối với phần lớn các NST, hội chứng di truyền UPD/ROH xảy ra không gây những hậu quả nặng nề về lâm sàng, tuy nhiên, đối với những cặp NST mang dấu ấn di truyền thì biểu hiện một số gen mang dấu ấn di truyền từ bố hoặc mẹ có thể khác nhau.  Cho tới nay đã có những báo cáo về UPD dòng mẹ xảy ra ở các NST 7, 11, 14, 15, 20 và UPD dòng bố xảy ra ở các NST 11, 14, 15, 20.

Theo dữ liệu từ Ngân hàng Sinh học Bắc Âu, tần suất UPD ở tất cả NST (không chỉ tính riêng NST mang dấu ấn di truyền): Khoảng 1/2000.

2. Tình trạng UPD làm tăng nguy cơ

2.1. Rối loạn di truyền do lỗi in dấu như: Prader-Willi, Angelman

Hội chứng AngelMan

– Tỷ lệ: Khoảng 1/15000 – 1/20000

Hội chứng AngelMan hay còn gọi Hội chứng thiên thần là bệnh di truyền hiếm gặp do các đột biến gen hoặc khiếm khuyết ở NST số 15.

=> Những trẻ mắc Hội chứng AngelMan vẫn có thể sống bình thường, tuy nhiên, trí tuệ và thể chất sẽ bị phát triển chậm, do đó cần sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt.

Hội chứng Prader-Willi

– Tỷ lệ: Khoảng 1/15000

=> Hội chứng Prader-Willi – hay còn gọi Hội chứng mất đoạn 15s11-q13 là bệnh lý di truyền do mất đoạn trên cánh dài của NST 15.

Các biến chứng phổ biến của Hội chứng Prader-Willi: Tiểu đường loại 2, bệnh tim mạch, các loại bệnh đột quỵ, viêm khớp hoặc ngừng thở khi ngủ, vô sinh.

Mặc dù tuổi thọ trung bình của các bệnh nhân sẽ không bị thay đổi quá nhiều, tuy nhiên có thể làm các triệu chứng trở nên nghiêm trọng.

2.2. Các bệnh di truyền lặn

=> Bệnh di truyền lặn xảy ra khi 2 bản sao gen bệnh được di truyền từ bố hoặc mẹ mang gen.

Một số bệnh di truyền lặn phổ biến bao gồm:

– Tan máu bẩm sinh Thalassemia thể Alpha  

Alpha Thalassemia (Tan máu bẩm sinh thể Alpha) là bệnh lý di truyền lặn do đột biến hoặc mất gen quy định tổng hợp chuỗi alpha-globin (trên NST 16), dẫn đến giảm/không có hemoglobin gây tan máu và thiếu máu mạn tính.

Bệnh thiếu máu từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây phù thai hoặc tử vong.

– Tan máu bẩm sinh thể Beta  

Beta Thalassemia (Tan máu bẩm sinh thể Beta) gây ra bởi các đột biến gen HBB trên NST số 11, khiến cho cơ thể giảm hoặc ngừng sản xuất chuỗi beta-globin.

Sự thiếu hụt gây giảm hemoglobin, làm hồng cầu dễ vỡ, từ đó gây thiếu máu mạn tính, biến dạng xương và qua tải sắt.

Thể Beta Thalassemia nặng có thể gây thiếu máu nặng trong 2 năm đầu đời, vàng da, chậm phát triển.

– Vàng da ứ mật do thiếu men citrin 

Các biểu hiện đặc trưng: Trẻ sơ sinh nhẹ cân, ứ mật trong gan, gây chậm phát triển ở trẻ sơ sinh và ở trẻ em. Các đợt tăng amoniac máu tái phát ở người lớn và các triệu chứng thần kinh tâm thần liên quan.

2.3. Bất thường kiểu hình khi xảy ra ở NST: 6, 7, 11, 14, 15, 20

Bất thường nhiễm sắc thể (NST), bao gồm cấu trúc và số lượng (đặc biệt các cặp 6, 7, 11, 14, 15, 20), là nguyên nhân di truyền hàng đầu gây sảy thai sớm (khoảng 50% trường hợp) và sảy thai liên tiếp.

Các xét nghiệm PGT tại Genome
Các xét nghiệm PGT tại Genome

3. PGT-A Plus, PGT-A Expand sàng lọc tình trạng UPD

3.1. PGT-A Plus: Xét nghiệm di truyền lệch bội NST nâng cao

Phạm vi xét nghiệm của PGT-A Plus

– Phát hiện các mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)

– Phát hiện lệch bội (Aneuploidy) trên 23 cặp NST

– Phát hiện các bất thường bội thể (Haploidy, Polyploidy)

– Kiểm soát và phát hiện ngoại nhiễm (Maternal Contamination)

PGT-A Plus thường được chỉ định cho những trường hợp nào?

– Phụ nữ ở tuổi trên 35

– Người nam gặp những vấn đề nam khoa nghiêm trọng

– Phụ nữ có tiền sử sảy thai liên tục hoặc gặp thất bại trong chu kỳ IVF

– Phụ nữ có tiền sử mang thai đa bội, mang thai trứng, hoặc tiền sử sinh con mang bất thường NST

– Cân nhắc sử dụng phôi nang từ hợp tử thụ tinh bất thường

– Muốn phát hiện mức bội thể, tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH).

3.2. PGT-A Expand: Vượt qua giới hạn của PGT

 Phạm vi xét nghiệm của PGT-A Expand (*2)

  • Phân tích mức bội thể (Haploid, Triploid)
  • Phân tích tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)
  • Phát hiện 6 hội chứng vi mất đoạn phổ biến có kích thước >1
  • Phát hiện ngoại nhiễm: Đây được xem là nguy cơ hàng đầu gây sai trong xét nghiệm

PGT-A Expand của Genome được chỉ định cho những trường hợp nào?

– Phụ nữ ở tuổi trên 35

– Người nam gặp những vấn đề nam khoa nghiêm trọng

– Phụ nữ từng có tiền sử sảy thai liên tục hoặc từng gặp thất bại trong chu kỳ IVF

– Phụ nữ từng có tiền sử mang thai đa bội, mang thai trứng, hoặc tiền sử sinh con mang bất thường NST

– Cân nhắc sử dụng phôi nang từ hợp tử thụ tinh bất thường

– Muốn phát hiện mức bội thể, tình trạng mất tính dị hợp tử (UPD/ROH)

4. PGT-Total: Xét nghiệm tích hợp PGT-A Expand/ PGT-SR/ PGT-M/ PGT-HLA sàng lọc UPD

4.1. Phạm vi xét nghiệm của PGT-Total

PGT-Total kết hợp sàng lọc đa tổn thương với phạm vi sàng lọc bao gồm:

*PGT-A Expand:  

– Các bất thường NST mà PGT-A Expand có thể sàng lọc (*2)  

*PGT-SR  

– Bất thường cân bằng cấu trúc NST: Đảo đoạn, Chuyển đoạn (Chuyển đoạn tương hỗ, chuyển đoạn hòa hợp tâm);

– Bất thường không cân bằng cấu trúc NST: Chèn đoạn, mất đoạn

=> Tìm hiểu thêm thông tin về xét nghiệm PGT-SR tại đây:

*PGT-M 

Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ cho bệnh lý đơn gen (PGT-M) là những xét nghiệm được thực hiện trên phôi nhằm phát hiện các bệnh lý di truyền do tổn thương trên gen đã được xác định từ trước hoặc có tiền sử gia đình rõ ràng.

Bằng việc phân tích DNA từ mỗi phôi, các xét nghiệm PGT nói chung và PGT nói riêng đã cung cấp các thông tin di truyền của phôi, trong đó, phôi có nguy cơ phát triển bệnh thấp có thể được ưu tiên để lựa chọn và chuyển vào tử cung.

*PGT-HLA 

PGT-HLA (Preimplantation Genetic Testing for Human Leukocyte Antigen-matching) là phương pháp xét nghiệm di truyền trước chuyển phôi nhằm tìm kháng nguyên bạch cầu phù hợp. Quy trình này nhằm mục đích xác định một phôi thai không chỉ khỏe mạnh mà còn phù hợp với HLA với một anh chị em trong gia đình cần ghép tế bào gốc tạo máu.

4.2. PGT-Total được chỉ định cho những trường hợp nào?

  • Gia đình mang một tổn thương di truyền đơn gen cần sàng lọc và có nguyện vọng kết hợp phân tích:

– Lệch bội số lượng NST trước chuyển phôi (PGT-A Expand)

– Phù hợp HLA Matching giữa phôi được sàng lọc với người con bị bệnh của gia đình

  • Gia đình mang từ 2 tổn thương di truyền đơn gen trở lên
  • Là giải pháp tối ưu trong trường hợp bệnh nhân muốn nhận kết quả PGT-M trong thời gian ngắn (chỉ từ 2 tuần) đồng thời các xét nghiệm vẫn đảm bảo tuân thủ các hướng dẫn của Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) trong xét nghiệm PGT.

=> Kính mời Quý vị theo dõi thêm thông tin về PGT Total của Genome tại đây!

*Nguồn tham khảo: 

Bài báo cáo: “Tích hợp phát triển đa bội và UPD trong chiến lược phôi an toàn: Cập nhật giải pháp PGT” – PGS.TS.BS Đặng Tiến Trường

=> Kính mời Quý vị theo dõi bài báo cáo tại đây!

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN
ĐĂNG KÝ TƯ VẤN TRA CỨU KẾT QUẢ