Để em bé có thể sinh ra khỏe mạnh, không mắc bệnh di truyền, các cặp đôi nên có thông tin về tình trạng mang gen của bản thân và của đối tác thông qua các xét nghiệm sàng lọc tình trạng mang gen (G-Carrier) bất kể họ có tiền sử gia đình mắc bệnh di truyền hay không.
Dựa trên sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực di truyền của thế giới, Genome đã triển khai và tối ưu xét nghiệm G-Carrier với nhiều tùy chọn khác nhau. Các xét nghiệm được thiết kế tập trung vào các bệnh lý di truyền có tần suất gặp phải cao trong cộng đồng người Việt cũng như người Châu Á.
G-CARRIER-10: Sàng lọc 10 gen liên quan đến 9 bệnh di truyền thường gặp nhất trong cộng đồng người Việt Nam |
||
|
1. Phạm vi xét nghiệm: Khảo sát các biến thể gây bệnh trên vùng mã hóa và vùng tiếp giáp intron/exon của 10 gen liên quan đến 9 bệnh di truyền lặn phổ biến tại Việt Nam, bao gồm 3895 biến thể gây bệnh hoặc nghi ngờ gây bệnh, được tham chiếu theo cơ sở dữ liệu ClinVar và ACMG, phát hiện các biến thể SNVs, INDELs (<20bp) và 4 mất đoạn phổ biến (--SEA, –THAI, -α4.2, -α3.7) của gen HBA1/HBA2.
2. Phương pháp xét nghiệm: Kỹ thuật giải trình tự thế hệ mới – NGS và Long-range PCR |
Gen HBA1, HBA2 – Tan máu bẩm sinh thể Alpha
Phạm vi khảo sát: 123 biến thể và 4 mất đoạn –SEA, –THAI, -α4.2, -α3.7
Tần suất mắc bệnh:
– Bệnh phổ biến ở Đông Nam Á, Trung Đông và Châu Phi.
– Tại Việt Nam:
+ Tỷ lệ người mang gen bệnh Alpha thalassemia trung bình ở tất cả các dân tộc trên toàn quốc là 21% (Từ 0,2% đến 85,4%).
+ Tỷ lệ và kiểu đột biến gen alpha globin khác nhau giữa các dân tộc và khu vực.
Biểu hiện lâm sàng:
– Thể ẩn: Người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh là người khỏe mạnh, không cần điều trị. Xét nghiệm Tổng phân tích tế bào máu có hồng cầu nhỏ, nhược sắc hoặc có thể bình thường.
– Thể vết: Người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh là người khỏe mạnh, không cần điều trị. Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu có hồng cầu nhỏ, nhược sắc.
– Thể trung bình: Bệnh nhân có thiếu máu mức độ vừa hoặc nhẹ, họ sẽ cần truyền máu trong một số trường hợp như thai kỳ hoặc sau các đợt sốt kéo dài,…
– Thể nặng: Bệnh nhân có thiếu máu mức độ trung bình – nặng, đa số biểu hiện khi trẻ trên 2 tuổi, gan to, lách to. Nếu không được điều trị đầy đủ, định kỳ, bệnh nhân sẽ bị các biến chứng khác như: Biến dạng xương mặt (trán dô, mũi tẹt, hàm hô); Chậm phát triển thể chất; Dậy thì muộn, suy tim, suy gan, suy tuyến nội tiết,….
– Thể rất nặng: Thai nhi bị phù trong 3 tháng cuối thai kỳ. Hầu hết các trường hợp thai nhi bị tử vong trước hoặc ngay sau khi sinh.
Điều trị:
– Điều trị triệu chứng bằng truyền máu và thải sắt (với bệnh nhân thiếu máu nặng, quá tải sắt).
– Điều trị khỏi bằng ghép tế bào gốc tạo máu, liệu pháp gen.
Gen HBB – Tan máu bẩm sinh thể Beta
Phạm vi khảo sát: 381 biến thể
Tần suất mắc bệnh:
– Bệnh phổ biến ở Đông Nam Á, Trung Đông và Châu Phi.
– Tại Việt Nam:
+ Tỷ lệ người mang gen bệnh Beta thalassemia trung bình ở tất cả các dân tộc trên toàn quốc là 4,63% (từ 0 đến 12,2%).
+ Tỷ lệ và kiểu đột biến gen beta globin khác nhau giữa các dân tộc và khu vực.
Biểu hiện lâm sàng:
– Thể vết: Người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh là người khỏe mạnh, không cần điều trị. Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu có hồng cầu nhỏ, nhược sắc.
– Thể trung bình: Bệnh nhân có thiếu máu mức độ vừa hoặc nhẹ, họ sẽ cần truyền máu trong một số trường hợp như thai kỳ hoặc sau các đợt sốt kéo dài,….
– Thể nặng: Bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu nặng rất sớm trong năm đầu đời, gan to, lách to. Nếu không được điều trị tốt, bệnh nhân sẽ bị nhiều biến chứng khác như: Biến dạng xương mặt (trán dô, mũi tẹt, hàm hô); Chậm phát triển thể chất; Dậy thì muộn, suy tim, suy gan, suy tuyến nội tiết,….
Điều trị:
– Điều trị triệu chứng bằng truyền máu và thải sắt (với bệnh nhân thiếu máu nặng, quá tải sắt).
– Điều trị khỏi bằng ghép tế bào gốc tạo máu, liệu pháp gen.
Gen PAH – Phenylketone niệu
Phạm vi khảo sát: 806 biến thể
Tần suất mắc bệnh: 1 trong 25.000 trẻ sơ sinh ở Hoa Kỳ.
Biểu hiện lâm sàng:
– Các biểu hiện xuất hiện khi trẻ được vài tháng tuổi bao gồm:
+ Suy giảm trí tuệ, tăng động, rối loạn tâm thần.
+ Rối loạn vận động: tăng trương lực cơ, co giật, liệt.
– Người mẹ bị bệnh Phenylketon niệu không được điều trị tốt trong thời kỳ mang thai sẽ sinh ra con bị bệnh đầu nhỏ và kém phát triển.
Điều trị triệu chứng: Chế độ ăn hạn chế phenylalanine suốt đời; Có thể phải dùng thuốc đặc hiệu.
Gen GALT – Rối loạn chuyển hóa galactose loại 2
Phạm vi khảo sát: 271 biến thể
Tần suất mắc bệnh: 1 trong 30.000 đến 60000 trẻ sơ sinh.
Biểu hiện lâm sàng
– Biểu hiện sớm trong 2 tuần sau sinh, sau khi trẻ uống sữa mẹ hoặc sữa công thức có chứa lactose, triệu chứng: Bú kém, nôn, tiêu chảy, li bì, hôn mê, giảm trương lực cơ, vàng da, gan to, thóp phồng; Có thể bị tan máu, nhiễm trùng huyết…..
– Nếu không được điều trị tốt: Trẻ bị chậm phá triển thể chất, khó khăn về ngôn ngữ, rối loạn vận động; Đục thủy tinh thể; Suy buồng trứng (bệnh nhân nữ); Rối loạn chức năng thận (protein niệu, acid amin niệu),…
Điều trị triệu chứng: Chế độ ăn hạn chế thực phẩm có galactose (đặc biệt không có lactose) trong suốt cuộc đời. Dùng sữa công thức không có lactose.
Gen GAA – Bệnh Pompe (rối loạn dự trữ glycogen loại 2)

Phạm vi khảo sát: 655 biến thể
Tần suất mắc bệnh: 1 trong 40.000 trẻ sơ sinh ở Hoa Kỳ
Biểu hiện lâm sàng:
– Khởi phát sớm ở trẻ nhỏ (thường trước 2 tuổi), biểu hiện: Yếu cơ, giảm trương lực cơ, nuốt kém, phì đại lưỡi, gan to, bệnh cơ tim phì đại dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn.
– Khởi phát muộn ở thiếu niên hoặc người trưởng thành, biểu hiện: Yếu cơ gốc chi, yếu cơ hô hấp, phì đại bắp chân.
Điều trị:
– Điều trị triệu chứng: Cần phối hợp điều trị đa chuyên khoa (Tim mạch, thần kinh, hô hấp, vận động…).
– Liệu pháp enzyme thay thế (ERT) có hiệu quả tốt nhưng chi phí rất cao.
Gen SLC25A13 – Vàng da ứ mật do thiếu citrin
Phạm vi khảo sát: 178 biến thể
Tần suất mắc bệnh:1/19.000 – 1/50.000 trẻ sơ sinh
Biểu hiện lâm sàng:
– Khởi phát ở giai đoạn sơ sinh hoặc trước 1 tuổi, tình trạng ứ mật trong gan, gọi là Neonatal intrahepatic cholestasis caused by citrin deficiency (NICCD). Biểu hiện: Vàng da, gan to, chậm lớn. Xét nghiệm cho kết quả: Men gan, lipid, amoniac, citrulline máu tăng; Giảm Prothrombin, đường huyết; Gan nhiễm mỡ.
– Khởi phát sau 1 tuổi, tình trạng chậm phát triển thể chất và rối loạn lipid máu, gọi là Failure to Thrive and dyslipidemia caused by citrin deficiency (FTTDCD). Biểu hiện: Rối loạn mỡ máu, hạ đường huyết, có thể viêm tụy,…
– Ở người trưởng thành, tình trạng tăng amoniac máu tái phát kèm theo các rối loạn tâm thần, gọi là citrullinemia type II (CTLN2). Biểu hiện: Lú lẫn, mất trí, hung hăng, co giật, hôn mê. Xét nghiệm cho kết quả: Gan nhiễm mỡ, xơ gan, tăng lipid, tăng amoniac máu.
Điều trị:
– Điều trị: Thực hiện chế độ ăn nghiêm ngặt theo hướng dẫn của chuyên gia
+ NICCD: Không dùng thực phẩm có lactose. Bổ sung chất béo, vitamin tan trong dầu.
+ FTTDCD: Chế độ ăn giàu protein và chất béo, ít carbohydrate.
+ CTNL2: Chế độ ăn giảm carbohydrate và tăng protein/chất béo.
+ Điều trị ghép gan nếu suy gan nặng.
Gen SRD5A2 – Rối loạn phát triển giới tính ở nam do thiếu men 5-alpha reductase
Phạm vi khảo sát: 78 biến thể vùng mã hoá
Tần suất mắc bệnh: Dị tật bộ phận sinh dục rất hiếm gặp ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ mắc bệnh là 1 trong 4500 trẻ, do nhiều nguyên nhân trong đó đột biến gen SRD5A2 là 1 nguyên nhân.
Biểu hiện lâm sàng:
– Ở trẻ nhỏ: Các biểu hiện gồm bộ phận sinh dục ngoài trông giống nữ, hoặc không rõ ràng nam/nữ, hoặc nam nhưng dương vật nhỏ (micropenis) và lỗ niệu đạo lệch dưới.
– Tuổi dậy thì: Do tăng testosterone cơ thể phát triển đặc điểm nam như tăng cơ bắp, giọng trầm, lông mu và tăng trưởng chiều cao, nhưng ít lông mặt/thân thể; Bị vô sinh.
Điều trị:
– Điều trị phụ thuộc vào biểu hiện lâm sàng và giới tính được nuôi dưỡng:
– Nếu nuôi dưỡng như nữ, cần phẫu thuật tạo hình trước tuổi dậy thì.
– Nếu nuôi dưỡng như nam, thực hiện phẫu thuật tạo hình trong năm đầu hoặc thứ hai của cuộc đời.
Cần hỗ trợ tâm lý, tư vấn để chọn giới tính phù hợp.
Gen ATP7B – Bệnh Wilson (rối loạn chuyển hóa đồng)
Phạm vi khảo sát: 727 biến thể
Tần suất mắc bệnh: 1 trong mỗi 30.000 người trên toàn thế giới.
Biểu hiện lâm sàng:
– Tổn thương gan thường xuất hiện sớm ở những năm đầu đời, biểu hiện: Vàng da, ngứa, thiếu máu do tan máu.
– Dấu hiệu ở mắt: Vòng Kayser ở giác mạc, đục thủy tinh thể hình hoa hướng dương.
– Dấu hiệu thần kinh, tâm thần thường xuất hiện độ tuổi 30 – 40 tuổi, bao gồm: Run, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn vận động, lo âu, ảo giác.
Điều trị:
– Dùng thuốc tạo phức với đồng để đào thải đồng dư qua nước tiểu; Chế độ ăn giảm đồng.
– Ghép gan khi có suy gan cấp hoặc bệnh gan mạn tính nặng
– Liệu pháp gen đang được nghiên cứu
G6PD – Thiếu men G6PD
Phạm vi khảo sát: 222 biến thể
Tần suất mắc bệnh: Ảnh hưởng đến hơn 400 triệu người trên toàn thế giới. Tỷ lệ ở nam giới cao hơn ở nữ. Vùng có nguy cơ cao là người gốc Phi, Địa Trung Hải, châu Á.
Biểu hiện lâm sàng:
– Trẻ nam bị bệnh nhiều hơn trẻ nữ, với các biểu hiện:
– Trẻ sơ sinh: Tăng bilirubin máu gây vàng da, nguy cơ bị vàng da nhân, có thể gây lờ đờ, buồn ngủ quá mức và trương lực cơ kém. Các triệu chứng có thể xuất hiện từ 24 giờ đầu sau sinh.
– Ở người lớn:
+ Các triệu chứng của thiếu máu do tan máu bao gồm: Thiếu máu, vàng da, mệt mỏi, lách to và nước tiểu sẫm màu.
+ Các triệu chứng xuất hiện sau khi cơ thể tiếp xúc với các tác nhân kính thích như dùng thuốc, thực phẩm (đậu tằm), nhiễm trùng.
Điều trị:
– Trẻ sơ sinh: Chiếu đèn, trường hợp nặng có thể phải truyền máu thay thế.
– Người lớn: Có thể phải truyền máu khi thiếu máu nặng; Ngừng các yếu tố, tác nhân có thể gây tan máu (thuốc, điều trị nhiễm trùng,…).
Bài viết liên quan:
-
G-CARRIER Xét nghiệm sàng lọc người mang gen bệnh
-
G-CARRIER-30: Sàng lọc 33 gen liên quan đến 30 bệnh di truyền có tỷ lệ lưu hành cao tại Việt Nam
-
G-Carrier Thalassemia – Thêm một lựa chọn để sinh con khỏe mạnh cho các cặp đôi có nguy cơ
-
Đội ngũ chuyên gia Genome


